Chúng ta đều biết rằng do không
lường trước được sức mạnh đột phá của những đối thủ cạnh tranh mới xuất hiện
trên thương trường, nhiều công ty lớn có thể bị các đối thủ đó áp đảo. Các tập
đoàn nổi tiếng như Digital trong lĩnh vực máy tính cá nhân hay Detroit trong
ngành chế tạo ô tô đã để lại cho chúng ta những bài học quý giá về điều đó.
Chính vì vậy mà hiện nay nhiều doanh nghiệp lớn đã không tiếc thời gian và tiền
của để tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh của mình và đề phòng nguy cơ thất bại.
Việc nhận biết những đối thủ
“hậu sinh
khả úy â€không
phải bao giờ cũng dễ dàng. Trong số những doanh nghiệp mới ra đời với dự định áp
dụng một công nghệ mới thì nhiều doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh mạnh
mẽ. Có rất nhiều lí do khiến cho các doanh nghiệp đàn anh cảm thấy lúng túng khi
cần nhận biết những “tân
binh â€
thực sự đáng gờm. Rất có thể là vì vậy mà mãi đến khi đối thủ
trở nên quá mạnh thì doanh nghiệp mới tìm cách đối phó. Tiếc rằng đến khi đó thì
mọi việc đã trở nên quá muộn. Tuy nhiên, việc nhận diện kịp thời những đối thủ
mạnh không phải là quá khó khăn và chúng ta vẫn có thể giải được bài toán đó
trên cơ sở những biện pháp hữu hiệu. Doanh nghiệp cần tập hợp được một nhóm
chuyên gia giỏi có khả năng nghiên cứu vấn đề này.
Khi nào thì một doanh nghiệp mới
nổi có khả năng tạo nên những bước đột phá trong lĩnh vực của mình? Một sản
phẩm, một quy trình hay một công nghệ mới có thể từng bước chinh phục thị trường
nhờ những ưu thế riêng: chất lượng của một sản phẩm có thể chưa thật hoàn hảo
nhưng ngược lại sản phẩm đó có thể được bán với giá rất hạ so với sản phẩm đang
thịnh hành. Chính vì vậy mà sản phẩm đó lại đáp ứng được nhu cầu của một số khá
lớn khách hàng, vì trên thực tế có nhiều người không cần sử dụng hết những tính
năng sẵn có của loại sản phẩm hàng đầu. Họ sẽ hoan nghênh loại sản phẩm phẩm mới
nếu cảm thấy rằng sản phẩm mới là đủ để đáp ứng nhu cầu sử dụng, đồng thời được
bán với giá rẻ hơn nhiều so với loại sản phẩm đang thịnh hành.
Quá trình chiếm lĩnh thị trường của
một sản phẩm mới có thể chia thành sáu giai đoạn như sau.
Giai đoạn 1: sản phẩm mới
được giới thiệu với giá rẻ tại một thị trường nhỏ nào đó, đặc biệt tại một nơi
mà việc cung ứng hay tiêu thụ sản phẩm hàng đầu có những hạn chế nhất định.
Giai đoạn 2: sản phẩm mới
vượt qua được những rào cản nhất định và thâm nhập được vào thị trường chính của
sản phẩm hàng đầu.
Giai đoạn 3: sản phẩm mới
bắt đầu thu hút được sự chú ý của khách hàng, thông thường với những hạn chế
nhất định về chất lượng hay tính năng nhưng với giá bán rẻ hơn nhiều so với sản
phẩm hàng đầu.
Giai đoạn 4: sản phẩm mới
ngày càng thu hút thêm được nhiều khách hàng, đặc biệt nếu việc chuyển sang sử
dụng sản phẩm mới không gây phiền phức đáng kể cho khách hàng.
Giai đoạn 5: Doanh nghiệp sản xuất
sản phẩm vốn thịnh hành có thể tìm kiếm những biện pháp trả đũa, hoặc có thể từ
bỏ một số thị trường nhất định nếu xét thấy việc trả đũa tại những thị trường ấy
là không cần thiết.
Giai đoạn 6: thị trường tiêu thụ
sản phẩm cũ dần dần bị thu hẹp. Trong trường hợp may mắn nhất, sản phẩm mới có
thể đóng một vai trò bổ sung cho sản phẩm hàng đầu trước kia mà không thay thế
được cho sản phẩm vốn thịnh hành. Còn trong trường hợp xấu nhất, sản phẩm mới có
thể chiếm lĩnh toàn bộ thị trường, khiến cho doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cũ
có thể lâm vào cả tình trạng phá sản.
để tìm ra giải pháp đối phó với
nguy cơ bị mất thị trường, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hàng đầu cần tổ chức
nghiên cứu kĩ lưỡng những vấn đề liên quan đến các sản phẩm có khả năng đột phá.
đối với mỗi giai đoạn nói trên, cần
tìm hiểu những nhân tố thuận lợi cho việc chinh phục thị trường của sản phẩm
mới.
Giai đoạn 1: Tiếp cận thị
trường ban đầu. Sản phẩm mới có thể bước đầu được chấp nhận tại một thị trường
nhất định. Có những khách hàng do thiếu kinh nghiệm hoặc do thiếu tiền nên đã
lựa chọn sản phẩm mới xuất hiện trên thị trường mà không lựa chọn sản phẩm vốn
có uy tín. Cũng có thể có những mảng thị trường mà việc cung ứng sản phẩm thịnh
hành không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ, hoặc có những thị trường tại đó sản phẩm
thịnh hành không mang lại được lợi nhuận cao, hoặc việc phân phối sản phẩm không
được thuận lợi. đó chính là những yếu tố khiến cho sản phẩm mới có chỗ để
“chen chân
†thay cho sản phẩm đang thịnh hành.
Giai đoạn 2: Sản phẩm mới
thâm nhập thị trường chính. Vì sao sản phẩm mới có thể vượt qua được những rào
cản nhất định để thâm nhập thị trường chính? Nguyên nhân của hiện tượng này có
thể là do nhà sản xuất sản phẩm mới đã được cấp bằng sáng chế, hoặc thương hiệu
của họ được công nhận và bảo hộ. Nhà sản xuất sản phẩm mới có thể thiết lập được
những quan hệ tốt với các nhà phân phối và các hệ thống cung ứng sản phẩm. Cũng
có thể là nhà sản xuất sản phẩm mới đã huy động được một lượng vốn cần thiết,
đáp ứng nhu cầu hoạt động của mình.
Giai đoạn 3: Sản phẩm mới có
thể thu hút được sự chú ý của khách hàng. Những nhân tố dẫn đến thành công của
sản phẩm mới có thể là ở chỗ sản phẩm đó có những tính năng nhất định khiến
khách hàng ưa chuộng, hoặc sản phẩm đó được bán khá rẻ, hoặc việc sử dụng khá
thuận lợi do dễ dàng nối kết với các thiết bị có liên quan, phù hợp với những
tiêu chuẩn công nghệ phổ biến. Có thể là quy trình sử dụng, lắp đặt đơn giản,
hoặc sản phẩm có độ chính xác và độ tin cậy cao. Cũng rất có thể là sản phẩm mới
có kích thước và hình thức phù hợp với nhu cầu của khách hàng.
Giai đoạn 4: Khách hàng
chuyển sang sử dụng sản phẩm mới. Có thể việc chuyển sang sử dụng sản phẩm mới
không có gì bất tiện hay phiền toái. Chẳng hạn sản phẩm mới có thể là những
thiết bị phù hợp với những tiêu chuẩn công nghệ thông thường, không đòi hỏi thay
đổi hạ tầng cơ sở liên quan đến việc lắp đặt và vận hành, không đòi hỏi phải đào
tạo lại nhân lực sử dụng và cũng không đòi hỏi phải có một lực lượng hỗ trợ hay
bổ sung trong quá trình sử dụng sản phẩm đó.
Giai đoạn 5: Sự trả đũa của
doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cũ. Để chiếm lĩnh được thị
trường, sản phẩm mới cần được phân phối qua những kênh tiêu thụ quen thuộc với
khách hàng, cần làm thay đổi thói quen của khách hàng liên quan đến truyền thống
văn hóa gắn liền với sản phẩm cũ, cần có thời gian thích hợp để thu hút khách
hàng. Nhà sản xuất sản phẩm mới lại còn phải có tiềm lực kinh tế khá mạnh để
thúc đẩy các khâu tiếp thị và lưu thông sản phẩm... Trên cơ sở phân tích các yếu
tố này, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cũ có thể có những tác động nhất định để
đối phó với sự cạnh tranh của sản phẩm mới. đối với mỗi yếu tố như vậy, cũng cần
xác định rõ mức độ và phạm vi ảnh hưởng của nó tùy theo yếu tố đó có phát triển
mạnh hay không.
Giai đoạn 6: Khả năng và vai
trò của sản phẩm mới. Để duy trì được thị phần của mình,
doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cũ có thể thực hiện những bước đi nhất định để
cải tiến sản phẩm, tăng cường ưu thế về vốn, về khả năng tiếp thị và lưu thông
sản phẩm.
Trên cơ sở nghiên cứu những nhân tố
cụ thể liên quan đến từng giai đoạn nói trên, doanh nghiệp có thể đưa ra được
những đối sách thích hợp để duy trì thị phần, cải tiến sản phẩm, tăng cường sức
hấp dẫn của sản phẩm, tranh thủ sức mạnh về vốn, về nhân lực, về truyền thống
văn hóa của mình, cũng như về mạng lưới sản xuất, tiếp thị và lưu thông phân
phối sản phẩm. Với một tổ chức vững mạnh bao gồm nhiều chuyên gia dày dạn kinh
nghiệm và với những công cụ và phương pháp hữu hiệu, doanh nghiệp có thể nâng
cao cơ hội thành công của mình, tránh được những rủi ro đáng tiếc trong quá
trình cạnh tranh. điều quan trọng nhất là ở chỗ cần triển khai kịp thời những
hoạt động cần thiết để phát hiện sớm những gì còn tiềm ẩn trên thương trường để
tìm ra giải pháp linh hoạt thích hợp, đảm bảo cho thành công của doanh nghiệp.
ANH
TUẤN
Theo Harvard Business Review,
11/2002