Chương trình hành động của Bộ Công nghiệp thực hiện Nghị quyết số 41-NQ-TW của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường
Trong những n
ăm
qua, sản xuất công nghiệp luôn duy trì ở mức tăng
trưởng cao, nhất là khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Năm 2004,
ngành công nghiệp (NCN) Việt Nam đạt tốc
độ tăng trưởng xấp xỉ 15%, nâng tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng trong GDP tử 39,9% (năm
2003) lên 40,1% (năm 2004).
Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ đó vấn đề
ô nhiễm môi trường
công nghiệp cũng ngày càng gia tăng và đã trở
nên đáng báo động. Nhận thức
được vấn đề này, Đảng và Nhà nước nói chung, NCN nói riêng đã có những chủ trương,
chính sách và biện pháp để giải quyết vấn để
ô nhiễm môi trường,
đảm bảo phát triển bền vững nền kinh tế
đất nước. Ngày 15/11/2004 Bộ Chính trị đã
ra Nghị quyết số 41-NQ/TW về tăng cường
công tác BVMT.
Với lịch sử và đặc
thù phát triển công nghiệp, hiện trạng môi trường
và các hoạt
động Bảo vệ môi trường (BVMT) công
nghiệp trong những năm
qua, Bộ Công nghiệp (BCN)
đang tích cực triển khai các hoạt động
BVMT ngành công nghiệp, đồng thời
xây dựng Chương trình hành
động của NCN với mục tiêu cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị nhằm ngăn ngừa,
hạn chế, khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường
trong hoạt động công nghiệp; sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong cán bộ công nhân viên toàn ngành, thực hiện phát triển công nghiệp bền vững và tạo thuận lợi cho tiến trình hội nhập.
Để
hoàn thành tốt nhiệm vụ BVMT nói chung, cũng như
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW, Bộ Công nghiệp
đã đưa ra một số Chương trình hành động
sau:
1. Đẩy
mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và trách nhiệm
BVMT:
Tổ chức các hội nghị/ hội thảo giới thiệu và phổ biến Nghị quyết đến toàn
thể cán bộ viên chức cơ quan BCN
và các cơ quan chủ chốt thuộc Đảng bộ
BCN, Đảng bộ các khối công nghiệp thuộc Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh. Đưa
tiêu chí BVMT vào xét thi đua khen thưởng và
đánh giá tư cách Đảng viên. Xây dựng văn hóa
môi trường trong sản xuất kinh doanh.
2. Tăng cường
công tác BVMT trong hoạt động công nghiệp:
Phối hợp với Bộ tài nguyên & Môi trường
xây dựng các văn bản
pháp luật, xây dựng và ban hành các Thông tư
liên bộ để hướng dẫn triển khai công tác BVMT. Phân công, phân cấp quản lý môi trường
trong các cơ quan thuộc Bộ và các tổng công ty, công ty thuộc Bộ. Tổ chức đào tạo,
tập huấn nhằm nâng cao năng
lực quản lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường
tại các doanh nghiệp. Phối hợp xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn/ hướng
dẫn kỹ thuật môi trường
cho doanh nghiệp công nghiệp;...
3. Thể chế hóa yêu cầu BVMT trong việc lập thẩm
định, phê duyệt và tổ chức thực hiện chiên lược
quy hoạch, kế hoạch chương
trình dán phát triển công nghiệp đến
2010:
Xây dựng và cụ thể hóa các tiêu chí phát triển bền vững ngành công nghiệp áp dụng cho doanh nghiệp. Rà soát, điều
chỉnh chiến lược quy
hoạch, chương trình phát triển ngành công nghiệp đáp ứng
các yêu cầu BVMT và phát triển bền vững. Xây dựng và ban hành quy chế BVMT ngành công nghiệp làm cơ
sở hướng
dẫn và thực hiện các giải pháp lồng ghép, điều chỉnh
và thiết lập chế độ báo cáo.
4. Tăng cường
các nguồn lực tài chính tạo sự chuyển biến căn
bản trong đầu tư BVMT:
BCN chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên & Môi trường
xây dựng cơ chế
đưa hoạch toán chi phí môi trường vào
chi phí sản xuất. Áp dụng thử nghiệm mô hình hạch toán chi phí môi trường
tại các Tổng Công ty Than, Tổng Công ty Điện lực,
Tổng Công ty Dầu khí. Hoàn thiện và phổ biến rộng rãi cơ
chế hạch toán mới, tạo nguồn đầu tư căn bản và chủ động
cho BVMT trong doanh nghiệp. Xây dựng các chương
trình dự án hợp tác BVMT dựa trên nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tập trung vào nhiệm vụ: Tăng cường năng
lực, đào tạo chuyên gia và cán bộ quản lý, BVMT.
5. Đẩy
mạnh nghiên cứu khoa học, chuyển giao ứng dụng công nghệ và đào tạo
nhân lực BVMT, tiên tới hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường:
Nghiên cứu các công nghệ phù hợp trong xừ lý nước thải ngành dệt nhuộm, giấy, hóa chất, cơ
khí mạ và chế biến lương thực thực phẩm đáp
ứng chỉ tiêu chất lượng, giá thành và
vận hành ở Việt Nam. Nghiên cứu áp dụng mô hình sản xuất sạch hơn phù hợp
với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Nghiên cứu mô hình thu gom chất thải rắn công nghiệp, nghiên cứu
cơ
hội tái chế và sử dụng chất thải của các ngành công nghiệp bằng các giải pháp kỹ thuật. Tăng
cường năng lực quản lý,
kiểm soát và BVMT: Đào tạo, nâng cao kỹ năng
kiểm soát và BVMT. Nâng cao năng lực cho một số phòng thí nghiệm, cơ
quan nghiên cứu phục vụ chương trình
BVMT.
6. Đẩy mạnh hợp tác quắc têvề BVMT:
- Phục vụ Chương
trình hội nhập: Phổ biến tới doanh nghiệp các nội dung cam kết/ điều
ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia,
khuyến khích/ xây dựng chế tài để các
doanh nghiệp cam kết thực hiện; xây dựng các kênh thông tin về hội nhập để
doanh nghiệp tham khảo. Xây dựng và triển khai áp dụng HACCP, tiêu chuẩn CODEX trong công nghiệp chế biến thực phẩm, phổ biến và ứng dụng cơ
chế sạch (CDM), ISO 14000, nhãn xanh, chăm
sóc trách nhiệm (RC)... trong công nghiệp.
- Đẩy
mạnh hợp tác quốc tế: Xây dựng chương trình hợp
tác và thu hút đầu tư vào lĩnh
vực BVMT ngành công nghiệp. Xây dựng các
đầu mối đủ năng lực để xây dựng dự án xin vốn
đầu tư tử các quỹ môi trường của các nước
và tổ chức quốc tế. Tăng
cường các chương trình trao đổi chuyên
gia, đào tạo ngoài nước với các tổ chức quốc tế nhằm hỗ trợ đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng
cao cho công tác BVMT ngành công nghiệp.
- Hình thành một số chương
trình hợp tác dài hạn về sản xuất sạch hơn,
công nghệ sinh học phục vụ BVMT; Chuyển giao công nghệ môi trường; Tăng
cường năng lực kiểm soát hóa chất độc
hại và mô hình phát triển bền vững, công nghiệp sinh thái.
7. Kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải:
Xây dựng chương
trình phổ biến công nghệ tốt nhất hiện có (BAT) nhằm định hướng
cải tiến và đổi
mới công nghệ giảm thiểu chất thải. Xây dựng năng lực
tự kiểm soát cho doanh nghiệp, thực hiện di dời và xử
lý các cơ sở ô nhiễm nghiêm trọng theo lộ trình tại quyết
định 64/CP. Ban hành các quy định về
nội dung lồng ghép BVMT, định hưởng chuyển đổi công nghệ/ sản phẩm theo hướng
thân thiện với môi trường
ngay từ trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các dự án phát triển ngành nhằm hạn chế ngay từ đầu các
nguồn thải mới. Triển khai đề
án hạn chế và giảm dần việc sử dụng các hóa chất độc hại
và bao bì làm tử nguyên liệu khó phân hủy, thay thế bằng các nguyên liệu thân thiện môi trường.
Xây dựng chương trình quản lý chất thải và khắc phục ô nhiễm tại các khu công nghiệp và khu chế xuất. Triển khai một số mô hình công nghiệp sinh thái gắn với quy hoạch công nghiệp tập trung, một số mô hình phát triển bền vững đối với
một số ngành, khu vực (làng nghề), các nhà máy công nghiệp đặc thù.
Triển khai kế hoạch xử lý và giảm thiểu ảnh hưởng của nước
thải công nghiệp tại các cụm điểm công nghiệp ở địa
phương, làng nghề. Chương trình
phục hồi và hoàn nguyên các mỏ khai thác khoáng sản, chống
ô nhiễm và xói mòn đất.
8. Khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên:
Xây dựng chiến lược
tiêu dùng bền vững công nghiệp. Định hướng chuyển đổi cơ cấu
công nghiệp theo hướng tiết kiệm
và tăng hiệu quả dựa trên việc sử dụng tổng hợp tài nguyên và gia tăng
hàm lượng chất xám trong sản phẩm. Xây dựng và triển khai chương
trình tiết kiệm năng
lượng trong hoạt động công nghiệp. Xây dựng chương
trình định hướng phát triển cơ chế
sạch (CDM) trong các ngành công nghiệp.
9. Đẩy mạnh xã
hội hóa hoạt động BVMT:
Xây dựng các cơ
chế cho phép cộng đồng tham
gia giám sát hoại động
công nghiệp thông qua hình thức ký cam kết giữa doanh nghiệp và cộng đồng địa
phương.
Ngoài ra, NCN đã có kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị quyết 41- NQ/TW như: Thành
lập Ban chỉ đạo triển khai Nghị quyết 41 của BCN. Phổ biến sâu rộng tinh thần Nghị quyết đếnn từng Đảng viên, cán bộ cơ quan BCN. Từng ngành cụ thể hóa các chương trình
hành động của Bộ và đăng ký kế
hoạch thực hiện gửi về Bộ. Ban chỉ đạo
sẽ kiểm tra đôn đốc việc thực hiện và báo cáo tiến độ
thực hiện với Bộ trưởng.
NGUYỄN HƯƠNG
Theo tin từ Hội nghị Môi trường
Toàn quốc 2005