VinaChem
Đang tải dữ liệu...
 
 Check mail | Sơ đồ site | English 
Trang chủ
 
Giới thiệu
 
Tin tức
 
Sản phẩm & Dịch vụ
 
Dự án
 
Đảng, Đoàn thể
 
Tra cứu
 
Xuất bản phẩm
 
TT Liên hệ
Tạp chí CN Hoá chất | Thông tin KT và CN Công nghiệp HC | KQ Đề tài NC và AD tiến bộ KHCN | Xuất bản phẩm khác
Số 01_2000
Tổng quan nghiên cứu, sử dụng phân lân ở Việt Nam

Phân lân đã đóng góp một phần đáng kể trong việc tăng năng suất và tổng sản lượng lúa và các cây trồng khác. Phân lân đã trở thành vật tư chiến lược trong thâm canh cây trồng nước ta. Thành tựu đó là kết quả của nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao tiến hộ kỹ thuật về lân trong sản xuất nông nghiép. Dưới đây là những nét chính thu được trong công tác nghiên cứu về lân.

1. LÂN TRONG ĐẤT VIỆT NAM

1.1. Lân tổng số và lân dễ tiêu

Hiệu lực phân lân đối với cây trồng liên quan chặt với hàm lượng lân tổng số và lân dễ tiêu trong đất. Lân tổng số và lân dễ tiêu trong đất đã được nghiên cứu từ những năm đầu của thập kỷ 60. Kết quả các công trình nghiên cứu cho ta nhận định:

* Lân tổng số trong các loại đất Việt Nam đều rất thấp. Có thể xếp thành 3 nhóm:

- Nhóm 1 trên 0,2%: đất nâu đỏ bazan.

- Nhóm 2 từ 0,08 - 0,2%: đất nâu đỏ trên đá vôi, đất phù sa sông Hồng, đất mặn trung tính.

- Nhóm 3 dưới 0,08%: tất cả các loại đất khác còn lại (đất phù sa sông Thái Bình hàm lượng lân tổng số từ 0,05 - 0,1%)

* Lân dễ tiêu trong đất cũng nghèo, hàm lượng thường dưới 10mg/100g đất, trừ đất phù sa sông Hồng có hàm lượng từ 10 - 15mg. Tuy nhiên trong những năm gần đây một số vùng thâm canh bón nhiều phân lân, do đó hàm lượng lân dễ tiêu trong đất lên đến 50-60mg/100g đất.

1.2 Thành phần các nhóm lân vô cơ trong đất Việt Nam

Trong đất có hai dạng lân: dạng lân hữu cơ và dạng lân vô cơ. Các công trình nghiên cứu tập trung vào nhóm lân vô cơ.

Kết quả phân tích của các tác giả cho thấy tỷ lệ % các nhóm lân vô cơ trong đất Việt Nam tùy thuộc vào các loại đất, hay nói cách khác là tùy thuộc vào hàm lượng canxi, sắt, nhôm và độ pH của đất. Tuy vậy có thể nhận định chung là:

- Nhóm photphat sắt, photphat nhôm chiếm ưu thế, chiếm từ 90-95%, trong đó photphat sắt trội hơn photphat nhôm, trừ đất bazan.

- Nhóm photphat canxi thấp, từ 5-10%.

- Nhóm photphat hoà tan hầu như không đáng kể, chỉ chiếm từ 0 đến 5% trong tổng số lân vô cơ.

1.3 Sự cố định và giải phóng lân trong đất Việt Nam

Sự cố định và giải phóng lân trong đất là một quá trình thuận nghịch. Hàm lượng lân dễ tiêu trong đất một mặt phụ thuộc vào hàm lượng lân tổng số, nhưng mặt khác, rất quan trọng là sự phụ thuộc vào các điều kiện lý, hoá, sinh của đất và vào điều kiện khí hậu, thời tiết. Kết quả nghiên cứu từ các công trình của các tác giả có thể tóm tắt như sau:

- Khả năng cố định lân của đất Việt Nam rất lớn, đặc biệt là các loại đất như: đất nâu đỏ bazan, đất đen nhiệt đới, đất đỏ vàng trên phiến thạch và đất phèn.

- Sự cố định lân chủ yếu ở dạng photphat sắt, photphat nhôm chiếm 60-80% trong tổng lân khoáng.

- ở đất trồng lúa nước hay đất bị ngập nước một thời gian, một số dạng lân cố định trong đất chủ yếu là photphat sắt, photphat nhôm được chuyển hoá sang dạng dễ tiêu.

- Sự giải phóng lân liên quan đến thời tiết, mùa vụ. ở miền Bắc sự giải phóng lân trong vụ mùa lớn hơn trong vụ xuân. Sự giải phóng lân trong điều kiện khí hậu đồng bằng sông Cửu Long thuận lợi hơn so với đồng bằng sông Hồng.

- Biện pháp để giảm bớt sự cố định lân là: nâng cao độ pH của đất, bón phân hữu cơ, bón lân ở dạng viên hay dạng phức hợp.

2. HIỆU LỰC PHÂN ĐỐI VỚI LÚA

Trong 40 năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về hiệu lực các dạng phân lân bón cho cây trồng. Nhưng phong phú hơn cả vẫn là những công trình nghiên cứu phân lân bón lúa ở 2 dạng: supe photphat và phân lân nung chảy.

Hiệu lực phân lân đối với lúa phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng 5 yếu tố dưới đây được nghiên cứu nhiều nhất:

2.1. Tính chất đất

Hiệu lực phân lân có liên quan chặt chẽ với hàm lượng lân tổng số, lân dễ tiêu và hàm lượng cacbon trong đất. Đất có hàm lượng chất hữu cơ càng cao, lân tổng số và lân dễ tiêu càng thấp thì hiệu lực lân bón cho lúa càng cao.

2.2 Hiệu lực phân lân trong mối quan hệ với dạng phân bón

Trong thời gian qua, 6 dạng phân lân: supephotphat đơn (SSP), phân lân nung chảy (FMP), photphorit, bột quặng apatít loại II, phân lân chậm tan và DAP đã được nghiên cứu đối với lúa trên nhiều loại đất. Tùy theo tính chất đất, chủ yếu là độ pH của đất, hiệu lực phân lân đối với lúa có khác nhau. Tóm lại có một số nhận định:

- Ba dạng phân lân (SSP, FMP,DAP) bón cho lúa trên hầu hết các loại đất đều có hiệu quả. Bón liều lượng 60-90kg P2O5/ha có thể bội thu từ 0,5-2,0 tấn thóc/ha, hiệu suất đạt từ 10-45kg thóc/kg P2O5.

- Phân lân nung chảy bón cho lúa trên đất phèn nặng, độ chua cao và trên đất nghèo magiê, canxi, silic có hiệu quả trội hơn bón supe photphat và diamon photphat; còn trên loại đất khác, supe photphat và diamon photphat trội hơn phân lân nung chảy.

- Vấn đề phối trộn supe photphat với phân lân nung chảy với một tỷ lệ thích hợp để bón lúa đang được nghiên cứu tiếp tục ở những năm sau.

2.3 Hiệu lực phân lân trong mối quan hệ với đặc điểm sinh học của lúa

Hiệu lực của phân lân cũng phụ thuộc vào giống lúa. Các giống lúa cổ truyền, cao cây như bầu, tép, sài đường, 314 và các giống lúa chịu thiếu lân như IR36, IR29 có nhu cầu NPK thấp, do đó hiệu lực của phân lân cũng thấp. Bón 60kg P2O5/ha, bội thu chỉ được 0,2-0,5 tấn thóc/ha, hiệu suất chỉ đạt 3,5-8kg thóc/kg P2O5 trong vụ xuân và bội thu từ 0,1-0,3 tấn/ha, hiệu suất đạt 2-4kg thóc/kg P2O5 trong vụ mùa. Đối với các giống lúa tạp giao, giống lúa mới, thấp cây, năng suất cao như TGl, TG5, NN8, DT 10, C70, IR64 v.v... có nhu cầu dinh dưỡng NPK cao, do đó hiệu lực bón phân lân cũng cao. ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bón 30-60kg P2O5/ha, bội thu 1,0-2 tấn thóc, hiệu suất đạt 20-45kg/kg P2O5

2.4 Hiệu lực phân lân trong mối quan hệ với đạm

Như trên đã trình bày, hiệu lực phân lân đối với lúa có quan hệ với tính chất đất và nhu cầu dinh dưỡng của lúa. Nhu cầu lân có liên quan với nhu cầu đạm, và do đó có liên quan với tỷ lệ N: P trong đất. Kết quả nghiên cứu có thể rút ra một số quy luật sau:

- Tỉ lệ N:P trong đất càng cao thì hiệu lực phân lân càng rõ. Hiệu lực phân lân trên đất úng trũng, đất phèn chứng minh quy luật này.

- Bón lân cân đối với đạm trên từng loại đất, không những tăng bội thu cho lân, mà còn tăng bội thu cho đạm, giảm được lượng N tiêu tốn cho l đơn vị sản phẩm, khoảng 20-25%.

2.5 Hiệu lực phân lân trong mối quan hệ với mùa vụ và thời tiết khí hậu.

Trên cơ sở các nghiên cứu đồng ruộng về hiệu lực phân lân và nghiên cứu động thái lân trong đất ở điều kiện mùa vụ và thời tiết khí hậu khác nhau, một số quy luật được rút ra sau đây:

- Hiệu lực phân lân đối với lúa ở miền Bắc vụ đông xuân cao hơn vụ mùa, gần gấp đôi.

- Hiệu lực phân lân đối với lúa ở ĐBSCL cao hơn đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) gấp 2-4 lần.

- Hiệu lực của phân lân ở ĐBSCL vụ hè thu trội hơn vụ đông xuân.

Ngoài 5 yếu tố trên, hiệu lực phân lân đối với lúa còn có quan hệ với kỹ thuật bón và thời kỳ bón. Nhìn chung phân lân dùng để bón lót, hãn hữu có thể bón thúc sớm hoặc khi lúa bị nghẹt rễ, bị xì phèn.

BÙI ĐÌNH DINH

Số lượt đọc:  1255  -  Cập nhật lần cuối:  13/05/2010 12:58:18 AM
 
 Trang chủ | Giới thiệu | Góp ý Trao đổi