Mai Tuyên, Trần Minh Yến,
Ngô Đại Quang
Summary
On the pulpose to
increase the effectiveness of the sulfaguanidine synthesis process, some
reactions, such as ion exchange, transposition and hydrolysis were studied
in more detail.
In order to increase the
yield of the sulfaganidine it is necessaly for the synthesis process to
be realized under the conditions for the guanidine group, being protected to
the highest degree. When the transposition is realized in the meltable mixture
the reaction time is shortened and the product yield is increased. Also, the yield
of the reaction product is increased, when the hydrolysis reaction is
realized in a NaOH solution of higher concentration during a smaller period of
time.
Sulfaguanidin là một loại
thuốc tổng hợp có tính kháng khuẩn. Thực tế nó không bị hấp thụ nên ít gây
tai biến. Trong điều trị, sulfaguanidin được dùng xử lý có hiệu quả các bệnh lỵ
trực trùng và ỉa chảy do E. Coli [1]
Tổng hợp hoá học
sulfaguanidin thường xuất phát từ acetanilid và qua các giai đoạn: sulfoclo
hoá, tổng hợp sulfocanxi, chuyển đổi ion, chuyển vị và thuỷ phân [2] .
Phản ứng giữa acetanilid và
axit closulfonic cho hiệu suất tốt khi tỷ lệ số moi giữa hai chất phản
ứng đó là 1:5, còn tổng hợp sulfocanxi được thực hiện bằng phản ứng giữa
sulfoclorua và dung dịch canxihydroxianamit. Hai phản ứng này hầu như đã xác định
được các thông số tối ưu [3]
Trong công trình nghiên cứu
này chúng tôi tập trung khảo sát kỹ thêm các giai đoạn : chuyển đổi
ion, chuyển vị và thuỷ phân, nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình tổng hợp
sulfaguanidin.
Trong thực tế, thường tiến
hành liên tiếp phản ứng chuyển đổi ion :
(CH3COOHNC6H4SO2NCN)2Ca2+
+ (NH4)2SO4
CaSO4 + 2CH3COHNC6H4SO2NCN.NH4+
Và
phản ứng chuyển vị nội phân tử :
CH3COHNC6H4SO2NCN.NH4+
CH3COHNC6H4SO2NHC(NH)NH2
Chúng
tôi đã tiến hành 2 phản ứng đó bằng cách dùng 21 gam sunfocanxi khô để tạo huyền phù với
nước cất. Phản ứng chuyển đổi ion được thực hiện với
(NH4)2SO4
. Khi nhiệt độ đạt
65oC, giữ nhiệt độ đó trong 30 phút, để nguội và lọc bỏ CaSO4
. Cô dịch lọc đến
hết nước. Khi đạt nhiệt độ 110oC, cho thêm glyxerin và khuấy để tiến hành phản
ứng chuyển vị ở nhiệt độ và thời gian khác nhau. Để nguội và cho thêm ít nước
lạnh vào hỗn hợp phản ứng để kết tủa axetylsulfaguanidin (ASG).
Lọc lấy kết tủa, sấy khô và thu được sản phẩm có
nhiệt độ nóng chảy ở 250oC- 256oC (bảng 1 ).
Bảng 1: Ảnh
hưởng của nhiệt độ và thời gian đến phản ứng chuyển vị
|
No |
Nhiệt độ chuyển vị
(oC) |
Thời gian chuyển vị
(h) |
Lượng ASG thu được
(g) |
Hiệu suất
(%) |
|
1 |
150-155 |
2 |
11,2 |
54,0 |
|
2 |
160-165 |
2 |
12 |
58,0 |
|
3 |
170-175 |
2 |
10,2 |
49,2 |
|
4 |
160-165 |
1,5 |
11,5 |
55,6 |
|
5 |
160-165 |
2,5 |
9,0 |
48,5 |
Như vậy, trong các điều
kiện nghiên cứu hiệu suất ASG cao nhất cũng chỉ đạt 58 %
Khảo sát riêng phản ứng
chuyển đổi ion, chúng tôi thu được hiệu suất sunfoamoni gần toàn lượng
(98%). Khi đưa sunfoamoni vào chuyển vị ở 160-165oC trong 2 giờ thì thu
được hiệu suất trung bình là 58,6%. Từ những nghiên cứu này, chúng tôi nhận
thấy cần phải tìm điều kiện để nâng cao hiệu quả của phản ứng chuyển vị. Trong
thực nghiệm, chúng tôi quan sát được sự giải phóng NH3 trong điều kiện phản
ứng chuyển vị. Có thể là sau khi tạo thành, nhóm guanidin bị phân huỷ một
phần và giải phóng NH3. Như vậy muốn nâng cao hiệu suất ASG, cần tiến
hành phản ứng chuyển vị trong điều kiện nhóm guanidin được bảo vệ tối đa.
Để đạt mục đích đó, phải
tiến hành phản ứng chuyển vị trong điều kiện có nguồn cung cấp ion amoni.
Khả năng ấy được tìm thấy trong điều kiện sử dụng hỗn hợp các hợp chất trợ
dung như NH3Cl, Urê, acetamit, CaCl2, NaCl hay hỗn
hợp của một vài chất đó [4-6] .
Chúng tôi đã sử dụng hỗn
hợp các chất trở dụng gồm NH4Cl, Urê và NaCl, là những chất dễ tìm và rẻ
tiền, Điều kiện tiến hành phản ứng và kết quả thực hiện được trình bày trong
bảng 2
Bảng 2
: Điều kiện và kết quả tiến hành phản ứng chuyển vị trong hỗn hợp nóng chảy.
|
No |
Sunfo
Canxi
(g) |
Hỗn hợp nóng chảy (g) |
Nhiệt độ
(oC) |
Thời gian
(h) |
ASG thu được (g) |
Hiệu suất |
|
NaCl |
NH4Cl |
Urê |
|
1 |
10 |
1 |
3,6 |
3,6 |
170-190 |
0,5 |
5,5 |
55,0 |
|
2 |
10 |
1 |
3,6 |
3,6 |
170-190 |
1 |
6,5 |
65,4 |
|
3 |
10 |
1 |
3,5 |
3,5 |
195-200 |
1 |
5,4 |
55,0 |
|
4 |
10 |
0,5 |
2,3 |
2,3 |
190 |
1 |
7,5 |
75,3 |
|
5 |
90 |
8,9 |
31 |
31 |
190 |
1 |
63,4 |
70,0 |
|
6 |
76 |
7,4 |
25,8 |
25,8 |
185-190 |
1 |
55,0 |
73,0 |
So sánh những kết quả trong
bảng 1 và 2. Có thể nhận thấy việc tiến hành phản ứng trong hỗn hợp nóng
chảy cho hiệu suất cao hơn nhiều.
Phản ứng thuỷ phân cắt nhóm
axetyl xảy ra trong môi trường kiềm:
CH3COHNC6H4SO2NHC(NH)NH2 +
NaOH ® H2NC6H4SO2NHC(NH)NH2
+ CH3COONa
Trước hết, chúng tôi tiến
hành phản ứng thuỷ phân với dung dịch NaOH nồng độ 5 hay 10% ở nhiệt
độ 60 hay 80oC. sulfaguanidin (SG) thô được tinh chế lại cho đến khi đạt
nhiệt độ nóng chảy như quy định trong Dược điển Việt nam I. Trong những thí
nghiệm này, khi thay đổi nồng độ dung dịch NaOH không ảnh hưởng đến hiệu
suất của SG, tuy thời gian phản ứng được rút ngắn, còn khi tăng nhiệt độ, thì
thời gian phản ứng được rút ngắn, nhưng hiệu suất lại giảm từ 58 xuống 47%. Có
thể là do tiếp xúc lâu với NaOH trong điều kiện nhiệt độ thuỷ phân, một phần nhóm
guanidin bị phân huỷ.
Chúng tôi dự đoán rằng nếu
rút ngắn thời gian tiếp xúc của ASG với NaOH ở nhiệt độ thuỷ phân
thì việc phân huỷ nhóm guanidin bị hạn chế.
Trên cơ sở đó, chúng tôi đã
tiến hành phản ứng thuỷ phân bằng dung dịch NaOH có nồng độ cao hơn
(40%) và ở nhiệt độ sôi của dung dịch (95- 98oC), đồng thời rút ngắn thời
gian phản ứng. Kết quả thu được xác nhận dự đoán trên
đây hiệu suất SG tăng lên và đạt trên 80% (bảng 3).
Bảng 3: Thuỷ
phân ASG bằng dung dịch NaOH 40%
|
No |
ASG
(g) |
NaOH (40%)
(ml) |
Thời gian
(min) |
SG (g) |
Hiệu suất
(%) |
|
1 |
2,2 |
5 |
30 |
1,2 |
45,0 |
|
2 |
3,0 |
12 |
20 |
3,4 |
67,8 |
|
3 |
4,7 |
10 |
15 |
3,0 |
76,4 |
|
4 |
4,0 |
10 |
10 |
2,8 |
83,7 |
|
5 |
54 |
100 |
10 |
36,7 |
81,3 |
|
6 |
42 |
73 |
10 |
30,0 |
83,0 |
|
7 |
63,5 |
118 |
10 |
46,0 |
87,0 |
Từ những kết quả thực
nghiệm thu được trong công trình này có thể rút ra kết luận chính như sau.
1. Nhóm guanidin trong phân
tử rất dễ bị phân huỷ trong môi trường kiềm ở nhiệt độ cao. Muốn nâng
cao hiệu suất SG cần phải tiến hành các phản ứng tổng hợp trong điều kiện
bảo vệ tốt nhất nhóm đó.
2. Phản ứng chuyển vị được
thực hiện trong hỗn hợp nóng chảy vừa rút ngắn thời gian phản ứng vừa
nâng cao hiệu suất ASG.
3.Phản ứng thuỷ phân thực
hiện bằng dung dịch NaOH nồng độ cao và giảm thời gian phản ứng cho
khả năng đạt hiệu suất SG cao.
Lời cảm ơn: Các tác
giả xin cảm ơn UBKHNH - nay là Bộ KH- CN- MT đã hỗ trợ kinh phí cho việc
thực hiện công trình nghiên cứu này, GS. Lê Quang Toàn đã khích lệ và tham
gia thảo luận các kết quả thu được
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 / Hướng dẫn sử dụng thuốc
LHCHDVN 1968 , tr, . 8 7 Phạm Song chủ nhiệm
2/ L. Pavlov, S.Stanev,
V.Kameduleski. Technologina khimokotamaxevtichnite
proizvodstva T2, Sofia, 1969 tr,141 .
3/ Mai Tuyên và cộng tác
viên: Công trình nghiên cứu KHKT 1986- 1990 Của viện HHCN Hà Nội 1990
tr. 28
4/ V. Hannel, Pol. Pat. No
42934
5/ US.Pat. No 2,380,006
6/ D. Nesteruk Szbekompek.
Prysemat. Chem. 40,34 (SG), CA, 55 292 04 (1961).