Phương Kỳ
Công, Pavel Fellner1
Trường ĐHKT Bratislava -
Slovakia
Summary
Composite
layer of Nn-B and Ni-Si were prepared by co-deposition of boron and silicon
powders respectively with electrolytically deposited nickel. The boroll and silicon
powders were by electroless nickel prior to codeposition. The
composite layers were thermally treated at 700oC and 900oC
respetively. The
microhardness and oxidation resistance at high temperature of the prepared layer are
remarkably higher than those of pure nickel layers.
Lớp mạ composit gồm lớp nền
là nikel với các hạt siêu nhỏ phân tán đã được nghiên cứu, thực
nghiệm và ứng dụng cho một số mục đích đã được mô tả trong [
1-4] . u điểm của
chúng là đã tạo ra được loại vật liệu mới - vật liệu composit với sự kết hợp các
ưu thế của vật liệu riêng biệt như là bền bào mòn, chống ăn mòn, chống oxi hoá
ở nhiệt độ cao ...Khi xử lý nhiệt lớp mạ composit, các hạt phân tán ( Ni, B)
sẽ tác dụng với vật liệu nền (Ni) hoặc kim loại gốc từ đó sẽ hình thành các
pha
rắn hoặc dung dịch rắn giữa chúng với các tính chất khác biệt mới, góp
phần cải
thiện tính chất của vật liệu.
Trong bài này chúng tôi sẽ
lần lượt mô tả phần thực nghiệm và một số kết quả nghiên cứu lớp mạ
composit Ni-B, Ni-Si. Các hạt rắn B và Si được bao một lớp vỏ nikel mỏng sẽ được
đồng kết tủa trong bể mạ nikel. Các lớp mạ composit sau đó được xử lý nhiệt và
nghiên cứu các tính chất hoá, cơ, lý bằng các phương pháp thích hợp.
1. Phần thực nghiệm:
Lớp mạ nền Nikel được mạ từ
dung dịch sunfatclorit có thành phần:
NiSO4.7 H2O 300
÷ 350 g/l,
NiCl2.6H20 50
÷ 60g/l, H3BO3 40g/l. Mật độ dòng từ 1 7a/dm 2 .Thời gian mạ
một giờ. Mật độ dòng khống chế bởi vì có liên quan đến chất lượng lớp mạ hình
thành. Hàm lượng của các hạt B trong điện dịch là
100g/l, còn hàm lượng các
hạt silic tăng dần từ 20, 30, 50, 70 và 100g/l. Các hạt B có đường kính 1 -2
µm, các hạt silic có kích thước 1 - 10µm (việc chuẩn bị các bột B, Si được thực hiện
tại Viện nghiên cứu mỏ của Viện khoa học Slovakia). Các hạt B, Ni lơ lửng trong
dung dịch bằng cách khuấy. Bột B, Si trước khi sử dụng được rửa bằng dung
dịch axit nóng HNO3(1:3), sau đó được rửa bằng nước đến khi trung tính nhằm
loại từ tất cả các tạp chất ảnh hưởng đến thí nghiệm. Hàm lượng của Si trong lớp
composit được xác định bằng hai phương
pháp: phân tích tế vi bằng tia X
(X-ray microanalysis by JEOL JXA 840 analyser) và bằng phân tích hoá học. Hàm
lượng B trong lớp composit được xác định bằng
phân tích hoá học. Nguyên lý của
phương pháp phân tích hoá học là hoà tan composit trong dung dịch axit HNO3 nóng (1: 3). Hàm lượng Si hoặc B được xác định bằng phép cân khối lượng
của các hạt rắn không tan hoặc dùng phương pháp chuẩn Chelaton III xác định
hàm lượng Ni sau đó nội suy xác định B hoặc Si trong cân bằng khối lượng.
Cả hai phương pháp đều cho kết quả trùng hợp. Các giá trị này khi so sánh với
các giá trị xác định bằng tia X đều nhỏ hơn một ít. Điều đó có thể lý giải là
do phương pháp tia X chỉ xác định hàm lượng các hạt phân tán trên bề của
composit, còn phương pháp hoá học lại xác định hàm lượng của chúng trong toàn khối.
Hiển nhiên là các hạt của pha phân tán tập trung nhiều hơn trên bề mặt của
chúng.
Các mẫu sau khi đã
phủ
composit được xử lý nhiệt trong khí quyển khí trơ (Ar) ở nhiệt độ 700oC và
900oC trong 2 hoặc 4 giờ. Độ cứng tế vi của chúng đo trên máy đo độ cứng D32
(Carl Zeiss Jena), còn độ bám dính được xác định bằng phương
pháp bẻ gập.
2. Kết quả và thảo luận :
Chúng tôi nhận thấy hàm
lượng của B và Si trong lớp composit xác định bằng phương
pháp hoá học và
phương pháp trọng lượng có thể biểu diễn như là hàm số của mật độ dòng. Các
số liệu thực nghiệm về hàm lượng của Si trong lớp composit được thể hiện
trong bảng 1 . .
Bảng 1. Hàm lượng silic (% khối
lượng) trong lớp mạ
|
Hàm lượng Si
trong dung dịch mạ(g/l) |
Mật
độ dòng J (A/dm2) |
|
|
1,0 |
2,0 |
3,0 |
5,0 |
7,0 |
|
20 |
6,12 |
7,61 |
8,18
|
9,29 |
9,29 |
|
30 |
7,51 |
9,67 |
10,17 |
11,81 |
12,69 |
|
50 |
9,23 |
9,76 |
10,70 |
12,10 |
13,03 |
|
70 |
10,02 |
11,53 |
12,27
|
12,61 |
14,00 |
|
100 |
10,80 |
12,06 |
12,47 |
13,53 |
14,90 |
Mối liên quan giữa các số
liệu này có thể biểu diễn bằng phương trình
W = ( a+bj)(
p+qj )c / [ 1 +
(p +qj) c ] (1 )
Ở đây w (% khối lượng) là
hàm lượng của các hạt Si trong lớp mạ, j(A/dm2 ) là mật độ dòng
catôt, c (g/l)là hàm lượng của các hạt Si lơ lưng trong điện dịch. Các thông số a,
b, p, q được xác định bằng phép hồi quy không tuyến tính (sử dụng chương trình
Statgrafics) với a = 13,592 + 0,539 ; b = 0,287 ± 0,101 ;
p = 0,029
± 0,006; q =0.012+ 0,002.
Phương trình (1) được chọn
để mô tả quan hệ (w,j) bởi vì các đường biểu diễn này cho thấy một cách
rõ ràng mối quan hệ hấp phụ đẳng nhiệt
phù hợp với cơ chế hai bước tạo ra lớp
phủ composit được đề xuất bởi Guglielmi [5].
Khi các hạt B hoặc Si không
được bao bởi lớp Ni bằng phương pháp mạ hoá, hàm lượng của chúng
trong lớp mạ không vượt quá 1% khối lượng [8 ] . Lớp mạ composit cũng đã được
nghiên cứu bằng tia X nhiễu xạ trên mặt cắt của mẫu. Sau khi mẫu được gia nhiệt
ở 900oC sau 1 giờ đã quan sát thấy sự biến mất của đường ranh giới giữa các
hạt Si với nền Ni. Điều này chứng tỏ đã có
phản thùng nhiệt giữa chúng. Khi ờ
nhiệt độ thấp hơn (700oC) sự tương tác nhiệt giữa
pha phân tán và pha nền chỉ xảy
ra ở phần vỏ ngoài của hạt phân tán. Song trong cả hai trường hợp xử lý nhiệt,
độ bám dính với nền của lớp mạ đều tăng lên. Trên mẫu thép dày lmm với lớp mạ
composit lmm được thử bằng cách gập vuông góc cho tới khi gầy mẫu mà
lớp mạ vẫn bám tốt với nền . Độ cứng tế vi và độ bền oxi hoá của lớp
composit trên nền thép được dẫn ra ở bảng No2.
Bảng 2.
Độ cứng tế vi (HV) và độ
bền oxi hoá (độ tăng khối lượng ∆ m) của Ni-Si và
Ni- B ở nhiệt
độ cao.
|
Vật liệu
|
Độ cứng tế vi
HV (N/mm2)
|
∆ m (mg/cm2) sau khi nung
mẫu
15h ở các nhiệt độ (oC) |
|
700 |
800 |
900 |
|
Thép thường |
186 |
5,76 |
oxi hoá hoàn toàn |
oxi hoá hoàn toàn |
|
Lớp mạ Ni |
297 |
0,63 |
1,28 |
2,64 |
|
Ni - Si (12% Si) |
551 |
0,54 |
|
3,84 |
|
Ni - B (10% B) |
657 |
0,42 |
1,16 |
2,67 |
|
Ni - Si đã qua xử lý nhiệt (700oC -
2h) |
811 |
0,22 |
0,62 |
1,96 |
|
Ni - Si đã qua xử lý nhiệt (700oC -
2h) |
1114 |
0,34 |
0,72 |
2,21 |
Độ cứng tế vi của lớp mạ
Ni-si đều cao hơn nhiều so với lớp mạ Ni. Độ bền chống oxi hoá của lớp
mạ Ni - Si , Ni - B ở nhiệt độ 700oC, 800oC và 900oC tiến hành trong lò nung
bằng cách xác định độ tăng khối lượng của mẫu trước và sau khi thí nghiệm. Kết quả
chỉ ra rằng lớp mạ Ni-B, Ni-Si có độ bền chống oxi hoá tốt ở nhiệt độ cao.
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu chỉ ra
rằng lớp mạ composit Ni-B, Ni- Si làm tăng độ cứng và bền oxi hoá ở nhiệt
độ cao. ở đây đã mô tả phương pháp chế tạo lớp
phủ composit và rút ra kết luận
là việc xử lý hoá học trước các bột phân tán tạo ra lớp vỏ dẫn điện cho chúng đã có
ảnh hưởng đáng kể đến việc đồng kết tủa của chúng vào lớp mạ.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
[1] V P. Greco Plating
Surface Finish, 62 (-1989).
[2] L.P. Antropov and Yu.
N. Lebedinski, Kompozisionye Elektrokhimicheskie
Pokrytya Materialy, Publishing House Technika,
Kiev, 1983.
[3] R.S. Sajfuling,
Neorganicheskie Kompozisionye Materialy, Publishing House Khimia Moscow, 1983.
[4] R.S. Sajfuling,
Physical chemistry of inogranic polYmeric and composite materials,
Horwood, Chichester, 1992.
[5] N. Guglielmi, J.
Electro. Chem. Soc. 119 (1972) 1009.
[6] J.P. Celis and J.R.
Rood, J. Electro. Chem. Soc. 124 (1977) 1977.
[7] H. Hayashi, S.Y. Izumi
and I. Tari, J. Electro. Chem. Soc. 140 (1993)
[8] P.K. Cong and P.
Fellner, Chem. papers, 48 (l994) 326.