VinaChem
Đang tải dữ liệu...

 

 Check mail | Sơ đồ site | English 
Trang chủ
 
Giới thiệu
 
Tin tức
 
Sản phẩm & Dịch vụ
 
Dự án
 
Đảng, Đoàn thể
 
Tra cứu
 
Xuất bản phẩm
 
TT Liên hệ
Tạp chí CN Hoá chất | Thông tin KT và CN Công nghiệp HC | KQ Đề tài NC và AD tiến bộ KHCN | Xuất bản phẩm khác
2012: giá trị SXCN đạt 41.889 tỷ đồng, tăng 6,12% so với năm 2011; doanh thu đạt 44.252 tỷ đồng, tăng 10,25%; nộp ngân sách 1.700 tỷ đồng; thu nhập bình quân của người lao động là 7 triệu đồng/ người/ tháng. Năm 2013, VINACHEM phấn đấu đạt giá trị SXCN tăng 14,5%, doanh thu tăng 11,5%, giá trị đầu tư xây dựng: 8.539,558 tỷ đồng. 
Số 06_1999
 Xu hướng toàn cầu hóa trong sản xuất muội than

Sản xuất muội than ngày nay  ngày càng giống ngành công nghiệp săm lốp mà nó phụcvụ: toàn cầu hoá và tập trung hoá.

Muội than là loại bột đen nhánh, được sản xuất bằng cách đốt cháy không hoàn toàn các nguyên liệu gốc hydrocacbon thơm. Gần như toàn bộ sản lượng muội than dùng làm phụ gia cho cao su để tăng độ bền và khả năng chống mài mòn. Công nghiệp săm lốp là khách hàng lớn nhất của sản phẩm muội than.

Đa số các hoạt động củng cố sáp nhập mới đây trong sản xuất kinh doanh muội than đã diễn ra ở khu vực châu Á, nơi các nhà sản xuất đỉa phương đang phải chịu tình trạng suy thoái kinh tế.

Mùa hè năm ngoái công ty Columbian Chemicals, nhà sản xuất muội than lớn thứ 3 thế giới, đã trả 220 triệu USD để mua công ty muội than Copebras của Braxin. Sau đó Columbian Chemicals lại mua 85% cổ phần cơ sở sản xuất muội than của Kumho Petrochemical (Hàn Quốc) với giá 73 triệu USD.

Trong khi đó, tháng 11-1998 nhà sản xuất muội than lớn thứ 2 thế giới là Degussa đã mua cơ sở sản xuất muội than của LG Chemical (Hàn Quốc) với giá 150 triệu USD. Degussa cũng đang lập kế hoạch thâm nhập thị trường Nam Mỹ với một cơ sở muội than mới ở Braxin.

Với các hoạt động trên Columhia và Degussa có vẻ như đang đi theo chiến lược toàn cầu hoá đã 50 năm nay của nhà sản xuất muội than hàng đầu thế giới là công ty Cabot. Tuy nhiên họ bành trướng vào châu Á đúng thời điểm mà Cabot đang gặp khó khăn ở đó. Nhà máy muội than mà Cabot mua ở Inđônêxia năm 1996 bị cuốn theo các rối loạn chính trị và kinh tế ở nước này và đã phải đóng cửa mùa hè năm ngoái, gây cho Cabot một gánh nặng tài sản trị giá tới 560 triệu USD. Quý 3-1998 doanh thu muội than của Cabot ở châu Á giảm 22%.

Bất chấp những thiệt hại trên, Cabot đã không tỏ ra nghi ngờ về việc tham gia sớm vào thị trường châu Á, nơi công ty đã thu lợi nhuận trong 10 năm qua, khi kinh tế khu vực tăng trưởng mạnh. Hơn nữa công ty luyên bố việc đóng cửa nhà máy ở Inđôncxia không phải là tín hiệu rút khỏi thị trường khu vực. Trong 2 năm qua, Cabot đã mua lại hoặc tăng thêm cổ phần của mình trong các nhà máy muội than ở một số nước châu Á.

Tại Ấn Độ, công ty liên doanh của Cabot đã mở rộng công suất hàng năm từ 40.000 lên 60.000 tấn muội than đồng thời Cabot cũng tăng cổ phần trong liên doanh từ 40 lên 60%.

Thượng Hải, Trung Quốc.,Cabot vừa cho khánh thành lò muội than mới, tăng gấp đôi công suất của nhà máy muội than tại đó. Với công suất hiện nay 70.000 tấn/năm đây là nhà máy muội than lớn nhất Trung Quốc. Bằng việc tra chi phí cho hầu hết việc mở rộng nhà máy, Cabot ra tăng cổ phần trong nhà máy liên doanh này từ 50 đến 70%.

Luật về quyền sở hữu của người nước ngoài ở Malayxia ngăn cản Cabot không được vượt quá mức cổ phần suýt soát dưới 50% trong các liên doanh. Tuy vậy nhà máy liên doanh ở Port Diekson mới đây đã hoàn thiện đơn vị sản xuất thứ 3, nâng công suất lên 90.000 tấn/năm. Vị trí gần như độc quyền của Cabot ở Inđônêxia là kết quả của việc mở rộng rất tích cực. Từ năm 1992 công ty đã xây dựng một nhà máy riêng ở Cilegon, sau đó năm 1996 nâng công suất của nó lên 70.000 tấn/năm. Cũng vào năm ấy, công ty mua lại nhà máy của Merak và vào năm 1997 nâng gấp đôi công suất của nó lên 60.000 tấn/năm.

Cabot thừa nhận là họ đã không nhìn thấy trước sự sụp đổ kinh tế của Inđônêxia, nhưng họ tin là thị trường sẽ hồi phục.

Tuy đã trải khắp trong khu vực nhưng Cabot không ngần ngại mua tiếp các cơ sở sản xuất muội than khác. Tuy nhiên, theo một chuyên gia, họ cũng có thể mở rộng các cơ sở hiện có một cách hiệu quả, với chi phí chỉ bằng một nửa chi phí mua lại các cơ sở tương đối đắt, như Columbia và Degussa đã thực hiện.

Năm 1993 công ty Degussa đã tham gia vào nhà máy liên doanh 53.000 tấn/năm ở Trung Quốc, sau đó tăng cổ phần của mình từ 40 lên 52%. Công ty cũng đã lựa chọn địa điểm cho nhà máy 50.000 tấn/năm ở Braxin, tuy các trì hoãn trong việc cấp giấy phép đã khiến cho mục tiêu khánh thành vào năm 1999 trở nên xa xôi hơn.

Công ty Columbia đã từ lâu chiếm vị trí mạnh trong các thị trường Mỹ và châu Âu, nhưng từ 2 năm nay họ nhận thấy cần phải tăng vốn ở Mỹ la tinh và châu Á. Hai cuộc mua bán năm ngoái đã khởi động cho quá trình này. Columbia mua Copebras và Kumho là các công ty đã mua công nghệ sản xuất của chính mình. Chiến lược này đảm bảo là công ty biết rõ giá trị những gì mình mua lại.

Copebras là bước đi lớn của Cobumbia trong việc thâm nhập thị trường Nam Mỹ. Với công suất 170.000 tấn/năm, Copebras cung ứng cho 60% thị trường Braxin và cho 40% thị trường Nam Mỹ, chỉ đứng thứ 2 sau Cabot.

Việc mua lại Kumho (Hàn Quốc) là bước xuất phát của Columbia cho việc tăng thị phần ở châu Á. Columbia cũng đang  có một cơ sở muội than nhỏ ở Philippin. Dự án mở rộng  nhà máy này đã phải hoãn lại do cuộc khủng hoảng kinh thế châu Á.

Columbia cũng đang thăm dò việc tham gia thị trường ở các nước khác, Ví dụ như Trung Quốc và Ấn Độ, qua hình thức mua lại cơ sở có sẵn hoặc xây dựng từ đầu.

Các công ty Columbia và Degussa mong muốn toàn cầu hoá sản xuất kinh doanh nhưng, các vụ mua bán sáp nhập tiếp theo sẽ ngày càng khó khăn hơn. Đa số các vụ mua bán thuận lợi đã được thực hiện, các cơ hội lớn khác không còn nhiều. Trong số các nhà sản xuất muội than độc lập còn lại thì nhiều nhà sản xuất (như ở Trung Quốc và Nga) có quy mô nhỏ và hoạt động kém hiệu quả, hoặc đang gặp phải các vấn đề môi trường do cơ sở sản xuất lạc hậu hoặc đang ở trong những  tình huống phức tạp khác.

Xu hướng toàn cầu hoá thực tế đang ảnh hưởng đến tất cả các ngành công nghiệp, nhưng trong sản xuất muội than, mong muốn sản xuất tại mọi khu vực của thế giới đang trở nên đặc biệt cấp bách vì 2 nguyên nhân:

Thứ nhất, muội than là sản phẩm tỉ trọng thấp nên không thể vận chuyển đi xa một cách kinh tế. Vì vậy các nhà máy nhỏ ở địa phương sẽ có ý nghĩa hơn một nhà máy lớn và toàn cầu. Công ty Cabot không ưa việc xuất khẩu muội than, nó chỉ làm như vậy khi cần tạo mầm cho các thị trường mới, như đã làm mới đây ở Trung Quốc khi chuẩn bị cho cơ sở sản xuất mới ở Thượng Hải.

Vì các công ty lớn thường vận hành nhiều nhà máy - Cabot có 27 nhà máy ở 20 nước - nên sự cải thiện công nghệ hoặc giảm giá thành sản xuất tại một nhà máy có thể được áp dụng cho các nhà máy khác tạo ra sự tiết kiệm lớn mà các nhà sản xuất nhỏ không thể có được.

Nguyên nhân thứ 2 là: Sản xuất săm lốp - ngành tiêu thụ muội than chủ yếu - là một trong những ngành sản xuất được toàn cầu hoá cao. Các công ty Goodyear, Michelin và Bridgestone kiểm soát 60% thị trường săm lốp thế giới, trong khi xu hướng sáp nhập trong ngành vẫn đang tiếp tục.

HOÀNG VÂN

C & EN,  5/1/1999

Số lượt đọc:  28  -  Cập nhật lần cuối:  13/05/2010 12:59:26 AM
 
 Trang chủ | Giới thiệu | Góp ý Trao đổi