Sản xuất
muội than ngày nay ngày càng giống ngành công nghiệp săm lốp mà nó phụcvụ:
toàn cầu hoá và tập trung hoá.
Muội than là loại bột đen
nhánh, được sản xuất bằng cách đốt cháy không hoàn toàn các nguyên liệu gốc
hydrocacbon thơm. Gần như toàn bộ sản lượng muội than dùng làm phụ gia cho cao
su để tăng độ bền và khả năng chống mài mòn. Công nghiệp săm lốp là khách hàng
lớn nhất của sản phẩm muội than.
Đa số các hoạt động củng cố
sáp nhập mới đây trong sản xuất kinh doanh muội than đã diễn ra ở khu vực châu Á,
nơi các nhà sản xuất đỉa phương đang phải chịu tình trạng suy thoái kinh tế.
Mùa hè năm ngoái công ty
Columbian Chemicals, nhà sản xuất muội than lớn thứ 3 thế giới, đã trả 220 triệu
USD để mua công ty muội than Copebras của Braxin. Sau đó Columbian Chemicals lại
mua 85% cổ phần cơ sở sản xuất muội than của Kumho Petrochemical (Hàn Quốc) với
giá 73 triệu USD.
Trong khi đó, tháng 11-1998
nhà sản xuất muội than lớn thứ 2 thế giới là Degussa đã mua cơ sở sản xuất muội
than của LG Chemical (Hàn Quốc) với giá 150 triệu USD. Degussa cũng đang lập kế
hoạch thâm nhập thị trường Nam Mỹ với một cơ sở muội than mới ở Braxin.
Với các hoạt động trên
Columhia và Degussa có vẻ như đang đi theo chiến lược toàn cầu hoá đã 50 năm nay
của nhà sản xuất muội than hàng đầu thế giới là công ty Cabot. Tuy nhiên họ bành
trướng vào châu Á đúng thời điểm mà Cabot đang gặp khó khăn ở đó. Nhà máy muội
than mà Cabot mua ở Inđônêxia năm 1996 bị cuốn theo các rối loạn chính trị và
kinh tế ở nước này và đã phải đóng cửa mùa hè năm ngoái, gây cho Cabot một gánh
nặng tài sản trị giá tới 560 triệu USD. Quý 3-1998 doanh thu muội than của Cabot
ở châu Á giảm 22%.
Bất chấp những thiệt hại
trên, Cabot đã không tỏ ra nghi ngờ về việc tham gia sớm vào thị trường châu Á,
nơi công ty đã thu lợi nhuận trong 10 năm qua, khi kinh tế khu vực tăng trưởng
mạnh. Hơn nữa công ty luyên bố việc đóng cửa nhà máy ở Inđôncxia không phải là
tín hiệu rút khỏi thị trường khu vực. Trong 2 năm qua, Cabot đã mua lại hoặc
tăng thêm cổ phần của mình trong các nhà máy muội than ở một số nước châu Á.
Tại Ấn Độ, công ty liên
doanh của Cabot đã mở rộng công suất hàng năm từ 40.000 lên 60.000 tấn muội than
đồng thời Cabot cũng tăng cổ phần trong liên doanh từ 40 lên 60%.
Ở
Thượng Hải, Trung Quốc.,Cabot vừa cho khánh thành lò muội than mới, tăng gấp đôi
công suất của nhà máy muội than tại đó. Với công suất hiện nay 70.000 tấn/năm
đây là nhà máy muội than lớn nhất Trung Quốc. Bằng việc tra chi phí cho hầu hết
việc mở rộng nhà máy, Cabot ra tăng cổ phần trong nhà máy liên doanh này từ 50
đến 70%.
Luật về quyền sở hữu của
người nước ngoài ở Malayxia ngăn cản Cabot không được vượt quá mức cổ phần suýt
soát dưới 50% trong các liên doanh. Tuy vậy nhà máy liên doanh ở Port Diekson
mới đây đã hoàn thiện đơn vị sản xuất thứ 3, nâng công suất lên 90.000 tấn/năm.
Vị trí gần như độc quyền của Cabot ở Inđônêxia là kết quả của việc mở rộng rất
tích cực. Từ năm 1992 công ty đã xây dựng một nhà máy riêng ở Cilegon, sau đó
năm 1996 nâng công suất của nó lên 70.000 tấn/năm. Cũng vào năm ấy, công ty mua
lại nhà máy của Merak và vào năm 1997 nâng gấp đôi công suất của nó lên 60.000
tấn/năm.
Cabot thừa nhận là họ đã
không nhìn thấy trước sự sụp đổ kinh tế của Inđônêxia, nhưng họ tin là thị
trường sẽ hồi phục.
Tuy đã trải khắp trong khu
vực nhưng Cabot không ngần ngại mua tiếp các cơ sở sản xuất muội than khác. Tuy
nhiên, theo một chuyên gia, họ cũng có thể mở rộng các cơ sở hiện có một cách
hiệu quả, với chi phí chỉ bằng một nửa chi phí mua lại các cơ sở tương đối đắt,
như Columbia và Degussa đã thực hiện.
Năm 1993 công ty Degussa đã
tham gia vào nhà máy liên doanh 53.000 tấn/năm ở Trung Quốc, sau đó tăng cổ phần
của mình từ 40 lên 52%. Công ty cũng đã lựa chọn địa điểm cho nhà máy 50.000 tấn/năm
ở Braxin, tuy các trì hoãn trong việc cấp giấy phép đã khiến cho mục tiêu khánh
thành vào năm 1999 trở nên xa xôi hơn.
Công ty Columbia đã từ lâu
chiếm vị trí mạnh trong các thị trường Mỹ và châu Âu, nhưng từ 2 năm nay họ nhận
thấy cần phải tăng vốn ở Mỹ la tinh và châu Á. Hai cuộc mua bán năm ngoái đã
khởi động cho quá trình này. Columbia mua Copebras và Kumho là các công ty đã
mua công nghệ sản xuất của chính mình. Chiến lược này đảm bảo là công ty biết rõ
giá trị những gì mình mua lại.
Copebras là bước đi lớn của
Cobumbia trong việc thâm nhập thị trường Nam Mỹ. Với công suất 170.000 tấn/năm,
Copebras cung ứng cho 60% thị trường Braxin và cho 40% thị trường Nam Mỹ, chỉ
đứng thứ 2 sau Cabot.
Việc mua lại Kumho (Hàn
Quốc) là bước xuất phát của Columbia cho việc tăng thị phần ở châu Á. Columbia
cũng đang có một cơ sở muội than nhỏ ở Philippin. Dự án mở rộng nhà
máy này đã phải hoãn lại do cuộc khủng hoảng kinh thế châu Á.
Columbia cũng đang thăm dò
việc tham gia thị trường ở các nước khác, Ví dụ như Trung Quốc và Ấn Độ, qua
hình thức mua lại cơ sở có sẵn hoặc xây dựng từ đầu.
Các công ty Columbia và
Degussa mong muốn toàn cầu hoá sản xuất kinh doanh nhưng, các vụ mua bán sáp
nhập tiếp theo sẽ ngày càng khó khăn hơn. Đa số các vụ mua bán thuận lợi đã được
thực hiện, các cơ hội lớn khác không còn nhiều. Trong số các nhà sản xuất muội
than độc lập còn lại thì nhiều nhà sản xuất (như ở Trung Quốc và Nga) có quy mô
nhỏ và hoạt động kém hiệu quả, hoặc đang gặp phải các vấn đề môi trường do cơ sở
sản xuất lạc hậu hoặc đang ở trong những tình huống phức tạp khác.
Xu hướng toàn cầu hoá thực
tế đang ảnh hưởng đến tất cả các ngành công nghiệp, nhưng trong sản xuất muội
than, mong muốn sản xuất tại mọi khu vực của thế giới đang trở nên đặc biệt cấp
bách vì 2 nguyên nhân:
Thứ nhất, muội than là sản
phẩm tỉ trọng thấp nên không thể vận chuyển đi xa một cách kinh tế. Vì vậy các
nhà máy nhỏ ở địa phương sẽ có ý nghĩa hơn một nhà máy lớn và toàn cầu. Công ty
Cabot không ưa việc xuất khẩu muội than, nó chỉ làm như vậy khi cần tạo mầm cho
các thị trường mới, như đã làm mới đây ở Trung Quốc khi chuẩn bị cho cơ sở sản
xuất mới ở Thượng Hải.
Vì các công ty lớn thường
vận hành nhiều nhà máy - Cabot có 27 nhà máy ở 20 nước - nên sự cải thiện công
nghệ hoặc giảm giá thành sản xuất tại một nhà máy có thể được áp dụng cho các
nhà máy khác tạo ra sự tiết kiệm lớn mà các nhà sản xuất nhỏ không thể có được.
Nguyên nhân thứ 2 là: Sản
xuất săm lốp - ngành tiêu thụ muội than chủ yếu - là một trong những ngành sản
xuất được toàn cầu hoá cao. Các công ty Goodyear, Michelin và Bridgestone kiểm
soát 60% thị trường săm lốp thế giới, trong khi xu hướng sáp nhập trong ngành
vẫn đang tiếp tục.
HOÀNG VÂN
C & EN,Â
5/1/1999