Chất
dẻo đã trở thành nguyên liệu sản xuất nhiều mặt hàng thông dụng có số lượng ngày
càng tăng. Điều không hay là hầu hết hàng hoá bằng chất dẻo đều dễ cháy và vì
thế chúng có nhiều hạn chế. Để khắc phục nhược điểm này, người ta đã sử dụng các
vật liệu halogen hoá là những polyme có thành phần cao (như PVC) hoặc cho thêm
phụ gia. Các chất halogen hoá chống cháy có hiệu quả, nhưng chúng có thể có hại.
Khi polyme bị đốt cháy, sẽ tạo ra khói và chất ăn mòn và có nguy cơ gây độc.
Người ta đang ngày càng
quan tâm tới việc sử dụng các chất thay thế, và chất độn hydrat hoá đã được lựa
chọn là chất chống cháy với nhiều ứng dụng. Các chất này phân huỷ và thu nhiệt ở
gần nhiệt độ mà bản thân polyme tụ phân huỷ đồng thời giải phóng nước.Quá trình
này làm nhiệt dễ thoát ra khỏi hệ thống và hoà loãng vật liệu có khả năng cháy.
Hơn nữa, chúng không tạo chất ăn mòn hoặc hợp chất khói gây độc hại như các phụ
gia chống cháy thông thường.
Mg(OH)2 và
Al(OH)3 đã được công nhận là chất phụ gia chống cháy. Tuy nhiên,
Mg(OH)2 có ưu việt hơn so vai Al(OH)3 do nó ổn định nhiệt
hơn khi được áp dụng cho một số polyme như etylenvinyl axetat, polypropylen và
nylon, là những chất cần nhiệt độ gia công cao. Hạn chế trọn việc ứng dụng này
là tỷ lệ chất độn trong chất dẻo phải cao (>60% trọng lượng) thì vật liệu mới
đạt được tính chất chống cháy. Để đạt được mức độn này mà không ảnh hưởng tới
tính chất cơ học của chất dẻo, thì kích cỡ hạt & hình dạng của Mg(OH)2
và tính chất bề mặt của nó phải được kiểm tra cẩn thận. Hơn nữa, độ tinh khiết
hoá học của phụ gia cũng quan trọng vì chỉ cần một lượng nhỏ tạp chất kim loại
được đưa vào cũng làm độ bền nhiệt trong chất dẻo có phụ gia kém đi. Sự phát
triển của loại vật liệu thoả mãn đặc tính vật lý và hoá học, kết hợp với hiệu
quả kinh tế trong sản xuất cao, là mục tiêu của công nghệ sản xuất trong nhiều
năm qua.
Quy trình công nghệ áp dụng
tại Công ty liên doanh Flamemag International GIE chứng tỏ khả năng sản xuất với
hiệu quả kinh tế mặt hàng có chất lượng cao này.
Nhóm nghiên cứu của CSIRO
hợp tác cùng giáo sư Roger Rothon - Giám đốc công nghệ của Elamemag đã tiến hành
đánh giá, lựa chọn một số công nghệ trước khi áp dụng công nghệ mới. Công nghệ
này bao gồm quá trình nung quặng magnesit có độ tinh khiết cao (hàm lượng MgCO3
>95%) để tạo thành oxít ma giê kiềm tính.
MgCO3 ®
MgO + CO2
Tiếp đó người ta cho MgO
tác dụng với dung dịch NH4Cl và các phản ứng xảy ra như sau:
MgO + 2NH4Cl
®
MgCl2 + 2NH3 + H2O
NH3 + H20
® NH4OH
MgCl2 + 2NH4OH
®>
Mg(OH)2 + 2NH4Cl
Ngay từ đầu ma giê hydroxít
đã kết tủa và kết tụ trong dung dịch dưới dạng phiến nhỏ có diện tích bề mặt lớn
và hấp thụ được dầu.
Tuy vậy sản phẩm Mg(OH)2
mới tạo ra cần phải được xử lý thuỷ nhiệt để tinh thể phát triển lớn hơn, dày
hơn, với tổng diện tích bề mặt giảm hơn nhiều so với trước và có độ hấp thụ dầu
thích hợp để ứng dụng làm chất chống cháy.
xử lý thuỷ nhiệt là điều
cốt lõi của quá trình, làm kích thích tinh thể to lên, độ kết tụ giảm đi , nhờ
đó mà tinh thể sạch hơn và phù hợp hơn đối với mục đích chống cháy. Qua xử lý
tinh thể, Mg(OH)2 cũng dễ lọc và dễ rửa sạch hơn.
Việc xử lý thuỷ nhiệt được
thực hiện dưới nhiệt độ và áp suất cao. Nhiệt độ thường dùng là 200oC,
áp suất là 2000pa, mặc dù với nhiệt độ gần 300oC thì thời gian phản
ứng ngắn hơn.
Quy trình này đã được thử
nghiệm ở quy mô bán công nghiệp có hiệu quả kinh tế và Mg(OH)2 được
sản xuất ra đạt chất lượng cao nhất. Sản phẩm Mg(OH) đạt độ tinh khiết hơn
99.8%, với tổng lượng tạp chất kim loại thấp hơn 10 phần triệu (<10ppm).
Sản phẩm theo quy trình
công nghệ này có chất lượng tương đương với các sản phẩm tốt nhất hiện nay đang
được sử dụng trong một số lĩnh vực, đặc biệt là ngành sản xuất cáp.
NGỌC MINH