 |
|
|
Tiểu sử nhà hóa học Berzelius
Vào nủa đ ầu thế kỷ 19 các nhà hoá
học Thụy Điển chiếm ưu thế trong ngành hoá học. Mặc dù phải tự học là chính,
nhưng Berzelius (1779-1848) vẫn là nhà hoá học lớn nhất của Thụy Điển và ông có
uy tín lớn trong thời kỳ quan trọng đó. Không mấy người có ảnh hưởng sâu rộng
như thế đối với toàn bộ ngành hoá học trong giai đoạn dài đến
vậy.
Tuy nhiên, cuộc sống và sự nghiệp của ông làm chúng ta phải
suy nghĩ. Thoạt đầu,
ông là nhà khoa học tiên phong ủng hộ những tư
tưởng mới và giúp chúng trở thành một bộ
phận của ngành khoa học chính thông. Tuy nhiên trong những năm
cuối đời, ông trở nên bảo thủ, ngăn
cản tiến bộ và tư tưởng của ông ngày càng
trở nên không thể chấp nhận được.
Berzelius sinh ngày 20/8/1779. Khi còn trẻ, ông thích s ưu
tập và phân loại côn trùng;
đây cũng là
dấu hiệu thể hiện khả năng sau này của ông trong việc hệ thông hoá ngành hoá
học. Vào năm 1802, ông được
cấp bằng tốt nghiệp y khoa của trường đại
học Uppsala vê đề tài "ảnh hưởng
của dòng điện lên bệnh nhân mắc các chứng bệnh khác nhau". Ông cũng quan tâm
nhiều tới ngành điện
và cùng với Hisinger thực hiện nhiều thực nghiệm quan trọng về hiện tượng
điện phân và khoáng chất,
đặt nền
tảng cho nhiều công trình của ông về sau này.
Vào n ăm 1807, khi
mới 28 tuổi ông
đã được phong hàm giáo sư, ông
trở thành viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy
Điển vào năm 1808, giữ chức chủ tịch vàn năm 1810 -
và từ năm 1812 cho tới suốt 30 năm sau ông giữ chức thư ký Hội đồng
khoa học. Vị trí làm việc với thu nhập cao và một phòng thí nghiệm hiện
đại đã giúp ông
cống hiến hoàn toàn cho nghiên cứu, thực nghiệm, viết sách và có quan hệ rộng
rãi với tất cả các nhà khoa học cùng thời . Mặc dù Thụy
điển bị tách
biệt với các trung tâm hóa học lớn nhưng
Berzelius thường xuyên ra nước
ngoài, làm quen với các nhà khoa học lớn cùng thời và ngây
được uy tín lớn
trên trường
quốc tê.
Là nhà phân tích bậc thầy, Berzelius đã thiết kế và xây dựng
nhiều thiết bi thí nghiệm theo quy trình phân tích mới, sớm trở thành tiêu chuẩn
khắp thế giới. Chúng được
mô tả trong cuốn sách "phòng thí nghiệm hoá học" có uy tín nhất thời
đó.
Trong khi viết cuốn sách ấy, Berzelius đã gặp phải những vấn
đề
nhu "liệu các hợp chất hoá học có các thành phần với tỷ lệ xác định hay không";
đây là vấn đề trọng tâm của ngành hoá chất.
Ông đã tiến hành tới 2000 phân tích hoá học để thẩm định định luật "tỉ lệ xác
đinh" của Joseph Louis Proust.
Điều này đã hỗ
trợ cho sự hình thành lý thuyết nguyên tử của Dalton, trong
đó Berzelius là người
ủng hộ đầu
tiên.
Vào n ăm 1811,
Berzelius đã đưa ra hệ thống danh pháp
hoá học với những ký hiệu mới cho các nguyên tố. Nhờ
đó thể hiện được các thành phần hoá học của
hợp chất một cách đơn giản,
hợp lý và phổ thông. Hệ thống này đã thay thế cho hệ thống cồng kềnh của Dalton.
Hiện tại hệ thống này vẫn còn được sử
dụng với sự sửa đổi và được xếp vào một
trong các đóng góp lớn
nhất của Berzelius cho ngành hoá học.
Công trình nghiên cứu trước
đó của Berzelius về
điện và điện
phân cũng cho ra đời lý thuyết nhị nguyên
(điện hoá). Lý thuyết này coi hợp chất
hoá học là tập hợp các thành phần mang
điện tích dương và âm. Nó giải thích về sự
hình thành hợp chất vô cơ là quá
trình trung hoà lẫn nhau của cả hai thành phần có
điện tích
trái dấu.
Berzelius phân tích rất nhiều loại quặng và
đã phát hiện hoặc tách được
một số nguyên tố như xeri, selen, silic,
ziricom, thori. Ông cũng đưa ra nhiều thuật
ngữ và khái niệm cơ bản
trong ngành hoá học như hiện tượng đồng
phân, sự xúc tác, protein và hiện tượng
thù hình. Từ khoảng giữa những năm
1814-1828, Berzelius đã công bô bảng trọng lượng
nguyên tử chuẩn xác đầu tiên.
Từ năm 1822 cho đến
lúc chết, Berzelius đã
khảo sát toàn bộ sự tiến bộ của hoá học. Đó
là những bản báo cáo nổi tiếng
đăng tải trên
Tạp chí "Thông báo hàng năm" và được
dịch sang tiếng Đức.
Berzelius hay ốm yếu, nhất là khi có tuổi Vào n ăm
1832, ông bỏ học vị giáo sư,
dành ít thời gian cho phòng thí nghiệm hơn
và ngày càng tham gia nhiều hơn vào các cuộc
luận chiến. Vào ngày 7/8/1848 ông chết ở Stockholm
để lại hình ảnh đáng kính trọng nhưng hoàn toàn xa
lạ với giới hoá học trẻ.
Theo nhận xét của nhà sử hoá học Henry Leicester sau này thì
Berzelius là ng ười bảo thủ. Mặc dù có
khả năng thực nghiệm và khái quát hoá vấn đề nhưng
các công trình của ông hầu như chỉ dựa vào
những nguyên lý mà ông lĩnh hội được trong
thập kỷ đầu sự nghiệp khoa học của mình, chủ
yếu là hoá vô cơ. Hoá hữu cơ với
các nguyên lý mới không phải là lĩnh vực mà ông có sở trường.
Ví dụ lý thuyết nhị nguyên của ông
đã gặp phải khó khăn trong việc giải thích
sự hình thành hợp chất hữu cơ và
các hợp chất phối trí mới. Mặc dù Berzelius là người
đầu tiên hoan nghênh học thuyết về gốc do
Liebig và Woehler đề xuất, nhưng ông đã
sớm nhận thấy rằng nó ngược
hẳn với thuyết nhị nguyên của mình khi Dumas phát hiện rằng clo có thể thay chỗ
hydro trong gốc hữu cơ mà không làm thay đổi
những tính chất cơ bản của hợp chất. Khi hai
ông Pumas và August Laurent phát triển nguyên lý "thế" thành một
đặc điểm chính
của hoá hữu cơ, thì điều đó đã
rung hồi chuông báo tử cho lý thuyết nhị nguyên, ít nhất là trong lĩnh vực hoá
hữu cơ.
Berzelius không thừa nhận rằng Cl- có thể thay
cho vị trí của H+. Sự công kích của ông
đối với các nhà
hoá học này ngày càng trở nên thô bạo, và trong những năm
cuối đời ông càng không muốn sửa
đổi các ý tưởng trước đây của mình. Tài phân tích,
khả năng tổng hợp - khái quát- hệ
thống hoá cùng chuyên môn tốt về xuất bản học
đã làm cho ông có ảnh hưởng cả lúc
sinh thời lẫn sau khi mất gần nửa thế kỷ.
MINH ANH
Theo Chemistry & Industry
Số lượt đọc:
27
-
Cập nhật lần cuối:
13/05/2010 12:59:26 AM | | | |
|
|
 |
|
|
|