VinaChem
Đang tải dữ liệu...

 

 Check mail | Sơ đồ site | English 
Trang chủ
 
Giới thiệu
 
Tin tức
 
Sản phẩm & Dịch vụ
 
Dự án
 
Đảng, Đoàn thể
 
Tra cứu
 
Xuất bản phẩm
 
TT Liên hệ
Tạp chí CN Hoá chất | Thông tin KT và CN Công nghiệp HC | KQ Đề tài NC và AD tiến bộ KHCN | Xuất bản phẩm khác
2012: giá trị SXCN đạt 41.889 tỷ đồng, tăng 6,12% so với năm 2011; doanh thu đạt 44.252 tỷ đồng, tăng 10,25%; nộp ngân sách 1.700 tỷ đồng; thu nhập bình quân của người lao động là 7 triệu đồng/ người/ tháng. Năm 2013, VINACHEM phấn đấu đạt giá trị SXCN tăng 14,5%, doanh thu tăng 11,5%, giá trị đầu tư xây dựng: 8.539,558 tỷ đồng. 
Số 06_1999
Tiểu sử nhà hóa học Berzelius

Vào nủa đầu thế kỷ 19 các nhà hoá học Thụy Điển chiếm ưu thế trong ngành hoá học. Mặc dù phải tự học là chính, nhưng Berzelius (1779-1848) vẫn là nhà hoá học lớn nhất của Thụy Điển và ông có uy tín lớn trong thời kỳ quan trọng đó. Không mấy người có ảnh hưởng sâu rộng như thế đối với toàn bộ ngành hoá học trong giai đoạn dài đến vậy.

Tuy nhiên, cuộc sống và sự nghiệp của ông làm chúng ta phải suy nghĩ. Thoạt đầu, ông là nhà khoa học tiên phong ủng hộ những tư tưởng mới và giúp chúng trở thành một bộ phận của ngành khoa học chính thông. Tuy nhiên trong những năm cuối đời, ông trở nên bảo thủ, ngăn cản tiến bộ và tư tưởng của ông ngày càng trở nên không thể chấp nhận được.

Berzelius sinh ngày 20/8/1779. Khi còn trẻ, ông thích sưu tập và phân loại côn trùng; đây cũng là  dấu hiệu thể hiện khả năng sau này của ông trong việc hệ thông hoá ngành hoá học. Vào năm 1802, ông được cấp bằng tốt nghiệp y khoa của trường đại học Uppsala vê đề tài "ảnh hưởng của dòng điện lên bệnh nhân mắc các chứng bệnh khác nhau". Ông cũng quan tâm nhiều tới ngành điện và cùng với Hisinger thực hiện nhiều thực nghiệm quan trọng về hiện tượng điện phân và khoáng chất, đặt nền tảng cho nhiều công trình của ông về sau này.

Vào năm 1807, khi mới 28 tuổi ông đã được phong hàm giáo sư, ông trở thành viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển vào năm 1808, giữ chức chủ tịch vàn năm 1810 - và từ năm 1812 cho tới suốt 30 năm sau ông giữ chức thư ký Hội đồng khoa học. Vị trí làm việc với thu nhập cao và một phòng thí nghiệm hiện đại đã giúp ông cống hiến hoàn toàn cho nghiên cứu, thực nghiệm, viết sách và có quan hệ rộng rãi với tất cả các nhà khoa học cùng thời . Mặc dù Thụy điển bị tách biệt với các trung tâm hóa học lớn nhưng Berzelius thường xuyên ra nước ngoài, làm quen với các nhà khoa học lớn cùng thời và ngây được uy tín lớn trên trường quốc tê.

Là nhà phân tích bậc thầy, Berzelius đã thiết kế và xây dựng nhiều thiết bi thí nghiệm theo quy trình phân tích mới, sớm trở thành tiêu chuẩn khắp thế giới. Chúng được mô tả trong cuốn sách "phòng thí nghiệm hoá học" có uy tín nhất thời đó.

Trong khi viết cuốn sách ấy, Berzelius đã gặp phải những vấn đề nhu "liệu các hợp chất hoá học có các thành phần với tỷ lệ xác định hay không"; đây là vấn đề trọng tâm của ngành hoá chất. Ông đã tiến hành tới 2000 phân tích hoá học để thẩm định định luật "tỉ lệ xác đinh" của Joseph Louis Proust. Điều này đã hỗ trợ cho sự hình thành lý thuyết nguyên tử của Dalton, trong đó Berzelius là người ủng hộ đầu tiên.

Vào năm 1811, Berzelius đã đưa ra hệ thống danh pháp hoá học với những ký hiệu mới cho các nguyên tố. Nhờ đó thể hiện được các thành phần hoá học của hợp chất một cách đơn giản, hợp lý và phổ thông. Hệ thống này đã thay thế cho hệ thống cồng kềnh của Dalton. Hiện tại hệ thống này vẫn còn được sử dụng với sự sửa đổi và được xếp vào một trong các đóng góp lớn nhất của Berzelius cho ngành hoá học.

Công trình nghiên cứu trước đó của Berzelius về điện và điện phân cũng cho ra đời lý thuyết nhị nguyên (điện hoá). Lý thuyết này coi hợp chất hoá học là tập hợp các thành phần mang điện tích dương và âm. Nó giải thích về sự hình thành hợp chất vô cơ là quá trình trung hoà lẫn nhau của cả hai thành phần có điện tích trái dấu.

Berzelius phân tích rất nhiều loại quặng và đã phát hiện hoặc tách được một số nguyên tố như xeri, selen, silic, ziricom, thori. Ông cũng đưa ra nhiều thuật ngữ và khái niệm cơ bản trong ngành hoá học như  hiện tượng đồng phân, sự xúc tác, protein và hiện tượng thù hình. Từ khoảng giữa những năm 1814-1828, Berzelius đã công bô bảng trọng lượng nguyên tử chuẩn xác đầu tiên.

Từ năm 1822 cho đến lúc chết, Berzelius đã khảo sát toàn bộ sự tiến bộ của hoá học. Đó là những bản báo cáo nổi tiếng đăng tải trên Tạp chí "Thông báo hàng năm" và được dịch sang tiếng Đức.

Berzelius hay ốm yếu, nhất là khi có tuổi Vào năm 1832, ông bỏ học vị giáo sư, dành ít thời gian cho phòng thí nghiệm hơn và ngày càng tham gia nhiều hơn vào các cuộc luận chiến. Vào ngày 7/8/1848 ông chết ở Stockholm để lại hình ảnh đáng kính trọng nhưng hoàn toàn xa lạ với giới hoá học trẻ.

Theo nhận xét của nhà sử hoá học Henry Leicester sau này thì Berzelius là người bảo thủ. Mặc dù có khả năng thực nghiệm và khái quát hoá vấn đề nhưng các công trình của ông hầu như chỉ dựa vào những nguyên lý mà ông lĩnh hội được trong thập kỷ đầu sự nghiệp khoa học của mình, chủ yếu là hoá vô cơ. Hoá hữu cơ với các nguyên lý mới không phải là lĩnh vực mà ông có sở trường.

Ví dụ lý thuyết nhị nguyên của ông đã gặp phải khó khăn trong việc giải thích sự hình thành hợp chất hữu cơ và các hợp chất phối trí mới. Mặc dù Berzelius là người đầu tiên hoan nghênh học thuyết về gốc do Liebig và Woehler đề xuất, nhưng ông đã sớm nhận thấy rằng nó ngược hẳn với thuyết nhị nguyên của mình khi Dumas phát hiện rằng clo có thể thay chỗ hydro trong gốc hữu cơ mà không làm thay đổi những tính chất cơ bản của hợp chất. Khi hai ông Pumas và August Laurent phát triển nguyên lý "thế" thành một đặc điểm chính của hoá hữu cơ, thì điều đó đã rung hồi chuông báo tử cho lý thuyết nhị nguyên, ít nhất là trong lĩnh vực hoá hữu cơ.

Berzelius không thừa nhận rằng Cl- có thể thay cho vị trí của H+. Sự công kích của ông đối với các nhà hoá học này ngày càng trở nên thô bạo, và trong những năm cuối đời ông càng không muốn sửa đổi các ý tưởng trước đây của mình. Tài phân tích, khả năng tổng hợp - khái quát- hệ thống hoá cùng chuyên môn tốt về xuất bản học đã làm cho ông có ảnh hưởng cả lúc sinh thời lẫn sau khi mất gần nửa thế kỷ.

MINH ANH

Theo Chemistry & Industry

Số lượt đọc:  27  -  Cập nhật lần cuối:  13/05/2010 12:59:26 AM
 
 Trang chủ | Giới thiệu | Góp ý Trao đổi