Từ khi ngành công
nghiệp nhôm ra đời cho tới nay và theo dự báo trong tương lai, sản xuất nhôm vẫn
bao gồm chủ yếu hai giai đoạn:
- Giai đoạn đầu: Sản xuất nhôm
oxit sạch, gọi là alumin cấp luyện kim.
- Giai đoạn tiếp theo: Sản xuất
nhôm kim loại bằng phương pháp điện phân alumin trong dung dịch muối criolit
nóng chảy ở nhiệt độ khoảng 950°C
(phương
pháp Hall - Heroult, được phát minh năm 1886).
Những nét đặc trưng cơ bản của
ngành công nghiệp nhôm là tiêu hao năng lượng cao và vốn đầu tư lớn. Tiêu hao
năng lượng để sản xuất 1 tấn nhôm kim loại là 150 - 170 GJ/T, trong khi đó
tungsten (vonfram)
cần 180 -190 GJ/T, đồng cần 85 - 100 GJ/T, kẽm 55 - 60 GJ/T, thép 15 - 20 GJ/T.
Như vậy ngành công nghiệp nhôm là một trong những ngành tiêu tốn nhiều năng
lượng nhất.
Trong công nghiệp, có một số
công nghệ sản xuất alumin tùy theo loại nguyên liệu và chất lượng nguyên liệu.
Hiện tại và trong tương lai, 85% alumin trên thế giới được sản xuất từ quặng
bôxit, 10% từ quặng nephelin và alunit, 5% từ các nguyên liệu khác. Điều đó cho
thấy bôxit vẫn là nguồn nguyên liệu quan trọng nhất trong sản xuất alumin nói
riêng và sản xuất nhôm nói chung.
Nếu nguyên liệu là bôxit chất
lượng tốt (tỷ
lệ Al2O3/SiO2 >=
7), hàm lượng SiO2
thấp, thì có thể áp dụng công nghệ
Bayer. Nếu là bôxit chất lượng trung bình, có thể áp dụng phương pháp kết hợp
Bayer - thiêu kết song song hoặc nối tiếp. Nếu là bôxit chất lượng xấu, hàm
lượng SiO2
cao, có thể áp dụng phương pháp
thiêu kết đơn thuần. Hiện tại và dự báo trong tương lai, khoảng 90% sản lượng
alumin trên thế giới vẫn được sản xuất bằng công nghệ Bayer.
I. TÀI NGUYÊN BÔXIT TRÊN THẾ
GIỚI, TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN
1. Tài nguyên bôxit trên thế
giới
Bôxit là một trong những nguồn
tài nguyên khoáng sản khá dồi dào trên thế giới. Với sản lượng khai thác và mức
tăng trưởng bình quân hàng năm như hiện nay, trữ lượng bôxit có thể đảm bảo cho
nhân loại sử dụng trong 100 - 125 năm tới, nếu tính cả tài nguyên thì thời gian
có thể tăng lên gấp đôi.
Bôxit có thành phần hóa học và
khoáng vật cơ bản như sau:
Thành phần hóa học
Thành phần khoáng vật
Al2O3: 40
- 65% điaspor
a
- Al2O3.H2O
bơmit g
- Al2O3.H2O
gipxit g
- Al2O3.3H2O
SiO2 : 0,5 -
10% kaolinit Al4(OH)8.SiO2.O10
thạch anh SiO2
Fe2O3 :
3 - 30%
hematit a - Fe2O3, gơtít a
- Fe2O3.H2O
TiO2 : 0,5 -
8% anatat TiO2, rutin TiO2
H2O : 10 -
34% trong điaspor, bơmit, gipxit,
kaolinit, gơtít
Các nguyên tố đi
kèm Mn, P, V, Cr, Ni, Ga, Ca, Mg, C... và các tạp
chất
Theo nguồn gốc thành tạo địa
chất, bôxit được chia làm hai loại: bôxit laterit và bôxit karstic. Bôxit
laterit được thành tạo từ quá trình phong hóa đá bazan, chiếm khoảng 90% trữ
lượng bôxit của thế giới, thành phần chủ yếu là gipxit. Bôxit karstic được thành
tạo trên nền đá vôi chiếm khoảng 10% trữ lượng.
Đối với mục đích công nghệ xử
lý, người ta chia bôxit thành các loại sau:
- Bôxit gipxit
(hàm
lượng bơmit < 5%), tập trung ở các nước: Braxin, Sierra Leone, Surinam,
Inđônêxia, Ghinê, Giamaica, ôxtrâylia, Vênêzuêla, Guana, Việt Nam, Ấn Độ.
- Bôxit hỗn hợp gipxit - bơmit
(hàm
lượng bơmit 5 - 20%), tập trung ở các nước: ôxtrâylia, Ghana, Ghinê, Giamaica,
Ấn Độ.
- Bôxit bơmit
(hàm
lượng bơmit > 20%), tập trung ở các nước: Nam Tư,
Pháp, Hungari.
- Bôxit điaspor
(hàm
lượng điaspor > 5%), tập trung ở các nước: Hy Lạp, Iran, Trung Quốc
(TQ),
Nam Tư, Việt Nam, Rumani.
Phần lớn các mỏ bôxit đều là
sản phẩm của quá trình phong hóa laterit đã chứa thành phần oxyt nhôm
(Al2O3)
cao. Vì vậy, các mỏ bôxit trên thế giới thường tập trung ở các vùng nhiệt đới và
cận nhiệt đới. Theo tài liệu thống kê chưa đầy đủ năm 1996, cả thế giới có
khoảng 55 nước có mỏ bôxit với trữ lượng 19,630 tỷ tấn, tài nguyên 29,793 tỷ
tấn, tổng cộng 49,423 tỷ tấn.
Bảng 1: Trữ lượng bôxit
trên thế giới (triệu
tấn)
|
Khu vực/ nước |
Trữ lượng |
Tài nguyên |
Cộng |
|
1. Bắc Mỹ
Hoa Kỳ |
33
33 |
0
0 |
33
33 |
|
2. Trung Mỹ
Costa Rica
Hondurat
Panama |
78
78
0
0 |
200
120
10
70 |
278
198
10
70 |
|
3. Vùng Caribê
Giamaica
Haiti
Cộng hòa Đominic
Guyana
(thuộc
Pháp)
Columbia |
1.905
1.866
10
29
42
0 |
305
250
40
15
130
100 |
2.210
2.116
80
14
172
100 |
|
4. Nam Mỹ
Braxin
Guyana
Surinam
Venezuela |
3.566
2.140
674
535
217 |
10.275
2.750
300
225
7.000 |
13.841
4.890
974
760
7.217 |
|
5. Tây âu
Hy Lạp
Nam Tư
Pháp
Đức
Ý
Tây Ban Nha
Thổ Nhĩ Kỳ
Anh
Áo |
945
572
320
21
2
5
5
20
0
0 |
2.010
400
500
500
0
45
125
435
3
2 |
2.955
972
820
521
2
50
130
455
3
2 |
|
6. Đông âu
Hungari
Cộng đồng các quốc gia
độc lập (CIS)
Rumani |
521
273
201
47 |
425
75
350
0 |
946
348
551
47 |
|
7. Châu Phi
Ghinê
Ghana
Camơrun
Siralion
Môzămbic
Zimbabuê
Mali
Ghi-nê Bit-xô
Nam Phi
Malagasi
Malauy
Zaia |
6.663
5.407
446
680
126
2
2
0
0
0
0
0
0 |
6.213
3.400
100
800
0
0
3
880
500
70
200
60
200 |
12.876
8.807
546
1.480
126
2
5
880
500
70
200
60
200 |
|
8. Châu Á
Trung Quốc
Ấn Độ
Inđônêxia
Malaysia
Pakistan
Iran
A Rập Xê-út
Philippin
Việt Nam
Đài Loan |
1.829
94
952
739
11
15
9
9
0
0
0 |
7.550
850
3.000
1.500
5
105
70
145
250
1.550
75 |
9.179
944
3.952
2.239
16
120
79
154
250
1.550
75 |
|
9. Châu Đại Dương
ôxtrâylia
Đảo Salomon
Fiji
Niu Dilân
Palau |
4.048
3.998
50
0
0
0 |
2.585
2.500
10
10
20
45 |
6.633
6.498
60
10
10
45 |
|
Tổng cộng |
19.630 |
29.793 |
49.423 |
Chú thích:
- Trữ lượng: Lượng quặng
bôxit đã được thăm dò qua nghiên cứu khả thi hoặc với trình độ công nghệ, giá cả
thị trường, các yếu tố khác có liên quan tại thời điểm đánh giá sẽ mang lại hiệu
quả kinh tế.
Nguồn tài nguyên, trữ lượng này
được phân bố như sau:
1. Nam Mỹ:
28% 2. Châu Phi: 26%
3. Châu Á:
19% 4. Châu Đại Dương: 14%
5. Châu âu:
8% 6. Vùng Caribê và Trung, Bắc Mỹ: 5%
Trong đó, 10 nước có tổng tài
nguyên, trữ lượng hàng đầu thế giới là: Ghinê, ôxtrâylia, Vênêzuêla, Braxin, Ấn
Độ, Giamaica, Inđônêxia, Việt Nam, Camơrun và Guyana với tổng tài nguyên và trữ
lượng là 39,723 tỷ tấn, chiếm 80,37% toàn thế giới.
Xét về trữ lượng, tỷ lệ phân bố
theo các khu vực và châu lục như sau:
1. Châu Phi:
34,6% 2. Châu Úc: 20,8%
3. Nam Mỹ:
18,5% 4. Giamaica: 9,7%
5. Châu Á:
9,3% 6. Các khu vực khác: 7,1%
Các mỏ bôxit được phân thành
các loại hình như sau:
- Dạng lớp chùm phủ
- Dạng túi
- Dạng lớp xen kẹp
- Dạng mảnh vụn
Các mỏ dạng lốp chùm phủ rất
đặc trưng cho loại bôxit có nguồn gốc phong hóa laterit, là loại hình phổ biến
trên thế giới và trữ lượng chiếm ưu thế. Các mỏ này có nhiều ở Tây Phi,
ôxtrâylia và Ấn Độ. Do quá trình phong hóa diễn ra rất triệt để trong điều kiện
thuận lợi và thời gian dài nên dẫn đến việc thành tạo quặng bôxit chất lượng rất
tốt, hàm lượng Al2O3
bằng 50-70%. Các mỏ bôxit ở Miền Nam
nước ta cũng thuộc loại hình này, song đáng tiếc là quá trình phong hóa chưa
chín muồi nên chất lượng quặng thấp, phải qua tuyển rửa mới nâng hàm lượng các
thành phần Al2O3
và mođun silic đến mức trung
bình của thế giới, là mức cho phép áp dụng phương pháp Bayer để sản xuất alumin.
Các mỏ dạng túi thường gặp ở
Giamaica và miền Nam âu, thân quặng có chiều dày biến đổi lớn, từ 1m đến 30m,
thành phần khoáng vật quặng thường gồm gipxit, điaspor và bơmit, hàm lượng Al2O3
> 45%, hàm lượng SiO2
rất thấp (khoảng
1,5%). Các mỏ dạng lớp xen kẹp thường phát triển ở Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ,
Braxin, Hungari v.v..., thành phần khoáng vật chủ yếu gồm điaspor và bơmit. Các
mỏ dạng mảnh vụn được thành tạo do quá trình tái trầm tích các vật liệu và quặng
bôxit bị phá hủy, xói mòn và vận chuyển từ mỏ khác tới. Các mỏ loại này ít phổ
biến. Mỏ Arkansas của Mỹ thuộc loại hình mỏ này. Ở
nước ta, các mỏ
bôxit Miền Bắc thuộc cả 3 loại hình kể trên.
2. Tình hình khai thác quặng
bôxit trên thế giới
Do nhu cầu nhôm kim loại ngày
càng tăng, sản lượng khai thác bôxit cũng đã tăng theo để đảm bảo cung cấp đủ
nguyên liệu cho sản xuất alumin và điện phân nhôm kim loại. Trong vòng 10 năm
gần đây, từ 1993 đến 2003, quy mô khai thác quặng bôxit trên thế giới tăng từ
101 triệu tấn lên 178 triệu tấn, với tốc độ tăng trưởng khoảng 6,5%/ năm. Theo
số liệu thống kê năm 2003, trên toàn thế giới có 19 nước khai thác quặng bôxit
với sản lượng 178 triệu tấn cung cấp cho các nhà máy sản xuất 60 triệu tấn
alumin.
Bảng 2. Sản lượng khai
thác bôxit và sản xuất alumin trên thế giới
năm 2003 (triệu
tấn)
|
TT |
Nước |
Quặng tự nhiên |
Quặng khô |
Alumin |
|
1 |
Ghana |
0,28 |
0,26 |
0,12 |
|
2 |
Ghinê |
17,57 |
16,32 |
7,22 |
|
3 |
Braxin |
18,83 |
16,65 |
7,33 |
|
4 |
Guyana |
3,93 |
3,64 |
0,80 |
|
5 |
Giamaica |
17,50 |
14,86 |
6,08 |
|
6 |
Surinam |
4,79 |
4,14 |
1,95 |
|
7 |
Vênêzuêna |
4,26 |
3,84 |
1,75 |
|
8 |
Ấn Độ |
10,82 |
9,87 |
2,89 |
|
9 |
Inđônêxia |
1,33 |
1,20 |
|
|
10 |
Iran |
0,84 |
0,76 |
0,28 |
|
11 |
Thổ Nhĩ Kỳ |
0,43 |
0,40 |
0,18 |
|
12 |
Việt Nam |
0,03 |
0,02 |
- |
|
13 |
Hy Lạp |
1,78 |
1,61 |
0,74 |
|
14 |
ôxtrâylia |
61,84 |
45,03 |
13,59 |
|
15 |
Nam Tư |
1,16 |
1,03 |
0,44 |
|
16 |
Hungari |
0,90 |
0,82 |
0,30 |
|
17 |
Azecbaigian |
0,69 |
0,63 |
0,09 |
|
18 |
Kazăcxtan |
3,69 |
3,29 |
1,20 |
|
19 |
Nga |
12,92 |
11,29 |
3,27 |
|
20 |
Trung Quốc |
14,39 |
12,29 |
5,85 |
|
Tổng cộng |
178,00 |
159,00 |
60,00 |
10
nước đứng đầu trong số 19 nước khai thác quặng bôxit trên thế giới là:
Bảng 3. Sản lượng bôxit
10 nước hàng đầu thế giới năm 2003 (triệu
tấn)
|
TT |
Nước |
Quặng tự nhiên |
Quặng khô |
Alumin |
|
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10 |
ôxtrâylia
Braxin
Ghinê
Giamaica
Trung Quốc
Nga
Ấn Độ
Surinam
Vênêzuêna
Guyana |
61,84
18,83
17,57
17,50
14,39
12,92
10,82
4,79
4,26
3,93 |
45,03
16,65
16,32
14,86
12,29
11,29
9,87
4,14
3,84
3,64 |
13,59
7,33
7,22
6,08
5,85
3,27
2,89
1,95
1,75
0,80 |
|
|
Tổng cộng |
166,85 |
137,93 |
50,73 |
10 mỏ khai thác quy mô lớn nhất
thế giới có sản lượng tổng cộng 110,36 triệu tấn, chiếm 62% sản lượng toàn thế
giới, riêng ôxtrâylia có tới 5 mỏ. Mỏ Huntly ở phía Tây ôxtrâylia, cách thành
phố Perth về phía nam 80km, có trữ lượng 700 triệu tấn và sản lượng khai thác
20,28 triệu tấn/năm, đứng đầu thế giới. Mỏ Gove ở phía Bắc, thân quặng dày 3 -
4m, lớp phủ khoảng 1m tương tự các mỏ bôxit ở Miền Nam nước ta, sản lượng khai
thác 6,7 triệu tấn/ năm v.v.... Các mỏ trên đều được khai thác bằng phương pháp
lộ thiên với công nghệ ô tô, máy xúc năng suất lớn và rất lớn. Các mỏ bôxit của
ôxtrâylia thuộc quyền quản lý của các tập đoàn nhôm hàng đầu thế giới như: ALCOA
of Australia, NABALCO, Worsley Alumin
(WAPL)
và COMALCO, chất lượng quặng bôxit tốt, trung bình tiêu hao 2,5 tấn quặng để sản
xuất 1 tấn alumin. Ngoài việc cung cấp cho các nhà máy điện phân nhôm trong
nước, lượng alumin sản xuất được còn được xuất khẩu sang các nước khác để sản
xuất nhôm.
10 mỏ khai thác lớn nhất trên
thế giới năm 2003 (triệu
tấn) là:
|
TT |
Nước |
Tên mỏ |
Quặng tự nhiên |
Quặng khô |
Alumin |
|
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10 |
Ghinê
nt
Ghana
Giamaica
ôxtrâylia
nt
nt
nt
nt
Nga |
Boke
Trombetas
Manchesterplateau
Watervalley
Weipa
Huntly
Willowdale
Gove
Boddington
Kiyashaltyr |
12,62
16,13
7,48
6,59
12,54
20,28
9,36
6,70
12,96
5,70 |
11,82
14,40
6,23
5,65
11,20
18,43
8,51
6,14
11,95
5,09 |
5,59
6,71
2,64
2,29
5,21
5,20
2,40
2,69
3,30
1,10 |
|
|
Tổng cộng |
110,36 |
99,42 |
37,13 |
Trong công tác khai thác, vấn
đề bảo vệ môi trường, hoàn thổ đất trồng hiện rất được quan tâm. Hầu hết các mỏ
sau khi khai thác hết trữ lượng đều được san gạt, trồng cây xanh và có biện pháp
làm tăng độ phì nhiêu của đất.
3.
Thị trường các sản phẩm đi từ quặng bôxit trên thế giới
3.1. Phân loại sản phẩm, lĩnh vực sử dụng
Hiện nay, ôxtrâylia là nhà cung
cấp bôxit lớn nhất thế giới, chiếm 40%, Trung và Nam Mỹ chiếm 25%, Châu Phi
chiếm 15%, còn lại là các châu lục khác. Trong đó 96% bôxit khai thác được sử
dụng cho ngành luyện kim, còn lại 4% sử dụng cho các ngành công nghiệp khác như:
vật liệu chịu lửa, gốm sứ, vật liệu mài - đánh bóng, ximăng…
Nhu cầu bôxit - alumin phụ
thuộc chủ yếu vào nhu cầu nhôm của thế giới, vì hơn 90% sản lượng alumin
(gọi
là alumin cấp luyện kim) được sử dụng cho sản xuất nhôm kim loại, còn lại 10% sử
dụng cho công nghiệp hóa chất và các ngành công nghiệp khác.
Hàm lượng tạp chất và tính chất
vật lý đặc trưng của alumin cấp luyện kim:
Bảng 4: Hàm lượng tạp
chất và tính chất vật lý
đặc trưng của alumin cấp luyện kim
|
Hàm lượng tạp chất |
Tính chất vật lý |
|
Tạp chất |
Giá trị, % |
Tính chất |
Giá trị |
|
Fe2OÂ3
SiO2
TiO2
Na2O
Na2O
V2O5
P2O5
CaO
MgO
ZnO
CuO
MnO2
SO3
Ga2O3
Cr2O3
NiO |
0,01 - 0,05
0,01 - 0,02*
0,002 - 0,01
0,25 - 0,5
0,4 - 0,6
0,002 - 0,01
0,001 - 0,003
0,01 - 0,05
0,001 - 0,004
0,005 - 0,025
0,001 - 0,006
0,0005 - 0,003
0,002 - 0,2
0,004 - 0,01
0,0001 - 0,0006
0,001 - 0,005 |
Tỷ trọng riêng
(tự
do), kg/dm3
Tỷ trọng riêng
(nén),
kg/dm3
Diện tích bề mặt riêng, m2/g
a-Al2O3,
%
Góc trượt, độ
Độ ẩm
(1050C),
%
Độ ẩm
(3000C),
%
Mất khi nung
(11000C),
%
|
0,930 - 1,030
1,100 - 1,300
5 - 100
5 - 90
30 - 50
0,2 - 2,0
0,5 - 3,0
0,3 - 3,0
|
* Alumin sản xuất bằng phương
pháp thiêu kết: 0,06 - 1,0%.
Trên thị trường thế giới có hai
dạng alumin: dạng bột và dạng cát, với các tính chất khác nhau như sau:
Bảng 5: So sánh tính chất
của hai loại alumin
|
|
Alumin dạng cát |
Alumin dạng bột |
|
Thành phần cấp hạt, %
+150 mm
75-150 mm
45-75 mm
< 45 mm |
< 5
60
25
< 10 |
-
10
40
50 |
|
Diện tích bề mặt riêng, m2/g |
> 30 |
5 - 10 |
|
a-
Al2O3, % |
< 30 |
50 - 70 |
|
Góc trượt, độ |
~ 30 |
40 - 50 |
|
Mất khi nung, % |
~ 1,0 |
~ 0,5 |
3.2.2.
Thị trường alumin Trung Quốc:
TQ là nước tiêu thụ alumin lớn
nhất thế giới và cũng là nước nhập khẩu alumin lớn nhất. Sản lượng nhôm kim loại
của TQ và nhu cầu tiêu thụ alumin ảnh hưởng trực tiếp đến xu thế thị trường
alumin thế giới.
Trong 5
năm gần đây, tốc độ tăng trưởng sản lượng alumin của TQ vượt quá 10%/ năm. Tốc
độ tăng trưởng này đứng đầu thế giới, song tốc độ tăng trưởng sản lượng nhôm kim
loại vượt quá 21%/ năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng sản lượng alumin rất nhiều,
khiến cho nhu cầu alumin trên thị trường TQ ngày càng tăng.
Tính đến cuối năm 2004 tổng
năng lực sản xuất nhôm của TQ là 9,770 triệu tấn/ năm, sản lượng nhôm thực tế
đạt 6,661 triệu tấn/ năm, nhu cầu tiêu thụ alumin khoảng 13,5 triệu tấn/ năm.
Trong 10 năm tới các ngành xây dựng, giao thông, bao bì... cần sử dụng nhôm của
TQ đều có tiềm lực phát triển rất lớn, sản lượng và nhu cầu tiêu thụ nhôm vẫn sẽ
tăng trưởng với tốc độ nhanh, do đó sẽ dẫn đến nhu cầu tiêu thụ alumin ngày càng
tăng. Dự kiến, đến năm 2005 nhu cầu alumin của TQ có khả năng đạt 14,5-15 triệu
tấn/ năm, đến năm 2010 có khả năng đạt 18,5 -19 triệu tấn/ năm.
Chalco là công ty cung cấp
alumin lớn nhất TQ, đứng hàng thứ hai sản lượng alumin toàn cầu. Năm 2004 sản
lượng alumin của công ty này là 6,816 triệu tấn, chiếm 97% tổng sản lượng alumin
của TQ. Để nâng cao khả năng cung cấp alumin của TQ, Chalco đã tiến hành hàng
loạt công trình mở rộng. Ngoài ra TQ hiện có nhiều nhà máy alumin đang ở vào
giai đoạn xây dựng. Dự kiến đến năm 2007 năng lực sản xuất alumin của TQ sẽ đạt
khoảng 11 triệu tấn, đến năm 2010 sẽ đạt khoảng 16 triệu tấn. Tuy lượng cung ứng
alumin tăng rất nhiều, song thị trường TQ vẫn có nhu cầu nhập khẩu alumin với số
lượng lớn.
3.2.3. Giá thành và giá thị
trường của sản phẩm alumin:
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng
đến giá thành của sản phẩm alumin, trong đó chủ yếu là: chất lượng quặng bôxit,
phương pháp sản xuất, giá năng lượng và nhân công.
Giá thành thương mại bình quân
alumin trên toàn thế giới năm 2002 là 137 USD/ tấn, trong đó thấp nhất là ở
ôxtrâylia (bình
quân 120 USD/ tấn); cao nhất là ở châu âu (193
USD/ tấn); giá thành trung bình ở Nam Mỹ và Bắc Mỹ lần lượt là 144 USD/ tấn và
178 USD/ tấn, trong đó sự khác biệt chủ yếu là ở nguồn quặng bôxit và giá quặng
bôxit.
Các nhà máy có giá thành alumin
thấp nhất đều ở ôxtrâylia, trong đó Công ty Worsley có giá thành sản phẩm thấp
nhất vì có giá quặng bôxit rẻ, cơ chế quản lý hoàn thiện.
Giá thị trường:
Khoảng trên 80% sản lượng
alumin của thế giới được giao dịch nội bộ giữa các công ty xuyên quốc gia hoặc
thông qua các hợp đồng dài hạn với các xí nghiệp sản xuất nhôm kim loại. Giá hợp
đồng alumin phụ thuộc với giá nhôm kim loại, nói chung bằng 11-14% giá nhôm kim
loại.
Ngoài các hợp đồng dài hạn, một
phần sản lượng alumin của thế giới được giao dịch trên thị trường thông qua
phương thức hàng đổi hàng hoặc hợp đồng ngắn hạn. TQ và Nga là thị trường trao
đổi alumin lớn nhất thế giới.
Năm 2005, thị trường alumin sẽ
tiếp tục nằm trong tình trạng thiếu hụt, giá alumin sẽ cơ bản duy trì ở mức của
năm 2004. Sau năm 2007, tuỳ thuộc vào các nguồn cung ứng tăng thêm, giá có thể
trở lại mức bình thường.
4.1. Sản xuất alumin
Hiện nay trên thế giới có hơn
30 nước sản xuất alumin, có hơn 70 nhà máy alumin đã đi vào sản xuất, sản lượng
theo thiết kế khoảng 64 triệu tấn/năm.
Bảng 6: Sản lượng alumin
của các châu lục trên toàn cầu
|
|
2000 |
2001 |
2002 |
2003 |
2004 |
|
Sản
lượng
103T |
Sản
lượng
103T |
Sản
lượng
103T |
Sản
lượng
103T |
Sản
lượng
103T |
|
Châu Á |
8774,0 |
9160 |
10490 |
11720 |
12807 |
|
Châu Úc |
15710 |
16350 |
16390 |
16790 |
17059 |
|
Mỹ Latinh |
11500 |
10850 |
11190 |
12480 |
13082 |
|
Bắc Mỹ |
5480 |
5470 |
5490 |
6094 |
6931 |
|
Tây âu |
5850 |
5930 |
6100 |
6120 |
6371 |
|
Đông âu |
5450 |
5790 |
5500 |
5680 |
6344 |
|
Châu Phi |
540 |
675 |
700 |
732 |
769 |
|
Cộng |
53310 |
54220 |
55840 |
59610 |
63363 |
Sản lượng alumin trên thế giới
hiện nay chủ yếu tập trung ở ôxtrâylia, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Braxin, Giamaica, và
một số nước khác, chiếm trên 61% tổng sản lượng thế giới.
Năm nước trên thế giới có sản
lượng alumin lớn là:
Bảng 7: Năm nước có sản
lượng alumin lớn trên thế giới.
Đơn vị: nghìn tấn
|
Tên nước |
1999 |
2000 |
2001 |
2002 |
2003 |
2004 |
|
ôxtrâylia |
14620 |
15716 |
16347 |
16390 |
16790 |
17059 |
|
Trung Quốc |
3838 |
4339 |
4743 |
5470 |
6140 |
7031 |
|
Hoa Kỳ |
4700 |
4251 |
4240 |
4260 |
4870 |
5642 |
|
Braxin |
3490 |
3733 |
3501 |
3860 |
4740 |
5096 |
|
Giamaica |
3576 |
3690 |
3583 |
3630 |
3850 |
4062 |
Hiện nay ôxtrâylia, Trung Quốc,
Braxin v.v... đang có nhiều dự án ở vào giai đoạn xây dựng, chuẩn bị đầu tư hoặc
quy hoạch. Năng lực sản xuất alumin của thế giới đang tăng trưởng với tốc độ
tương đối nhanh. Trong 3 năm tới có thể tăng khoảng 8,5 triệu tấn, năm 2007 sẽ
đạt khoảng 72,5 triệu tấn/ năm. Năm 2010 sẽ đạt khoảng 80 triệu tấn/ năm. Khi đó
thị trường alumin thế giới sẽ đi vào thời kỳ cân bằng mới.
4.2. Sản xuất nhôm
Sản lượng nhôm ở các vùng
(các
nước) trên thế giới từ năm 1997 đến năm 2004 như sau:
Bảng 8: Sản lượng nhôm
nguyên sinh trên thế giới
|
Đơn vị: 1.000 T |
|
|
1997 |
1998 |
1999 |
2000 |
2001 |
2002 |
2003 |
2004 |
|
Bắc Mỹ |
5.930 |
6.086 |
6.161 |
6.041 |
5.222 |
5.413 |
5.495 |
5.110 |
|
Châu Mỹ La tinh |
2.116 |
2.075 |
2.093 |
2.167 |
1.991 |
2.230 |
2.275 |
2.356 |
|
Tây âu |
3.297 |
3.549 |
3.718 |
3.801 |
3.885 |
3.928 |
4.068 |
4.295 |
|
Trung và Đông âu |
3.316 |
3.419 |
3.584 |
3.689 |
3.728 |
3.825 |
3.996 |
4.138 |
|
Châu Phi |
1.106 |
1.043 |
1.095 |
1.178 |
1.369 |
1.372 |
1.428 |
1.711 |
|
Châu Á |
1.910 |
1.843 |
1.966 |
2.221 |
2.234 |
2.261 |
2.475 |
2.735 |
|
Châu Đại Dương |
1.804 |
1.934 |
2.029 |
2.094 |
2.122 |
2.170 |
2.198 |
2.246 |
|
Tổng |
19.479 |
19.949 |
20.646 |
21.191 |
20.551 |
21.199 |
21.935 |
22.591 |
10 công ty hàng đầu trong sản
xuất alumin và nhôm trên thế giới năm 2003 là:
- Cie de Bauxites de
Guinee (CBG)
(Ghinê)
- MRN
(Braxin)
- Alpartijamalco
(Giamaica)
- Kaiser Giamaica Bauxit
Ltd (Giamaica)
- Bauxilum
(Vênêzuêla)
- Comalco
(ôxtrâylia)
- Alcoa Australia
(ôxtrâylia)
- Nabalco
(ôxtrâylia)
- Wapl
(ôxtrâylia)
II. TÀI NGUYÊN BÔXIT Ở VIỆT
NAM, TÌNH HÌNH KHAI THÁC
1. Tài nguyên bôxit ở Việt
Nam
Theo kết quả điều tra, thăm dò
địa chất cho đến nay, ở nước ta bôxit là một trong những nguồn tài nguyên khoáng
sản rất phong phú. Các mỏ, điểm quặng bôxit có diện phân bố rất rộng suốt từ Nam
đến Bắc. Căn cứ vào nguồn gốc thành tạo, quặng bôxit được phân ra làm 2 loại:
quặng trầm tích (trong
đó có một số mỏ, điểm quặng bị biến chất) và quặng phong hóa laterit. Các mỏ
bôxit trầm tích phân bố chủ yếu ở Miền Bắc, có thành phần khoáng vật chính là
hydrat đơn (bơmit,
điaspor); trái lại, các mỏ phong hóa laterit phát triển chủ yếu ở Miền Nam, có
thành phần khoáng vật chính là hydrat 3 (gipxit).
1.1. Các mỏ, điểm quặng
bôxit nguồn gốc trầm tích
1.1.1. Vị trí, đặc điểm địa
chất
Kết quả nghiên cứu địa chất đã
sơ bộ phân loại được 5 vùng có triển vọng về bôxit trầm tích ở Miền Bắc, đó là:
vùng Lạng Sơn, vùng Cao Bằng, vùng Hà Giang, vùng Sông Đà, vùng Nghệ An và mỏ Lỗ
Sơn ở Hải Dương, v.v...
1.1.1.1. Vùng bôxit Lạng Sơn
Vùng bôxit Lạng Sơn nằm trong
tỉnh Lạng Sơn và phần Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên là vùng có điều kiện kinh tế,
giao thông thuận lợi. Các mỏ bôxit đã biết gồm các nhóm mỏ: Lạng Sơn, Bắc Sơn,
Bằng Mạc thuộc tỉnh Lạng Sơn và các mỏ Nà Đông, La Chế nằm ở góc Đông Bắc tỉnh
Thái Nguyên, trong đó nhóm mỏ Lạng Sơn có quy mô trữ lượng lớn và được thăm dò
chi tiết hơn cả.
a. Nhóm mỏ Lạng Sơn
Nhóm mỏ Lạng Sơn tạo thành một
dải kéo dài 25 km dọc theo đường ô tô và đường xe lửa từ làng Bản Lóng ở phía
Đông Nam qua thị xã Lạng Sơn, thị trấn Đồng Đăng đến làng Lũng Lừa ở phía Tây
Bắc. Nhóm này gồm các mỏ Ma Mèo, Đồng Đăng, Tam Lung, Khôn Phích và Bản Lóng,
nằm cách nhau từ 0,5 đến 5km. Kết quả tìm kiếm, thăm dò tính được 16,97 nghìn
tấn bôxit cấp A + B + C1
+ C2
trong đó, mỏ Ma
Mèo - Đồng Đăng có trữ lượng lớn nhất và được nghiên cứu chi tiết hơn cả.
Bảng 9. Trữ lượng và chất
lượng quặng bôxit nhóm mỏ Lạng Sơn
|
Tên mỏ |
Thân quặng |
Dài
(m) |
Rộng
(m) |
Dày
(m) |
Hàm lượng % |
Modul silic |
Trữ lượng
(triệu
tấn) |
|
Al2O3 |
SiO2 |
|
Ma Mèo |
22 thân
quặng deluvi |
100 - 900 |
50 - 350 |
1 - 50 |
50 |
6.5 |
7.7 |
9.53 |
|
Đồng Đăng |
4 thân deluvi |
200 - 800 |
60 - 400 |
3 - 30 |
50 |
9.2 |
5.5 |
4.60 |
|
Tam Lung |
1 thân quặng gốc |
1800 |
30 - 300 |
30 - 50 |
49.50 |
12.60 |
4 |
2.84 |
|
Cộng |
|
|
|
|
|
|
|
16.97 |
b. Nhóm mỏ Bằng Mạc
Nhóm mỏ Bằng Mạc nằm ở phía Tây
Nam của tỉnh Lạng Sơn. Nhóm mỏ này gồm những mỏ và điểm quặng nằm gần huyện lỵ
Bằng Mạc, cách ga Đồng Mỏ 12km và cách thị xã Lạng Sơn 50km theo đường ô tô. Trữ
lượng quặng bôxit của nhóm này là C1
+ C2
= 1317 ngàn tấn; trong đó C1
= 722 ngàn tấn.
c. Nhóm mỏ Bắc Sơn
Nhóm mỏ Bắc Sơn nằm ở phía Tây
tỉnh Lạng Sơn, phân bố trên một dải hẹp kéo dài 15km từ làng Đông Y đến làng
Hương Cốc dọc theo đường ô tô Thái Nguyên - Lạng Sơn. Mỏ cách đường ô tô xa nhất
cũng chỉ 2km. Nhóm mỏ gồm các mỏ Pa Eng, Đông Y, Lân Bạt, Nà Pàn, Vũ Sơn và
Hương Cốc. Trong đó mỏ Vũ Sơn là lớn nhất. Trong nhóm mỏ Bắc Sơn đã thăm dò được
1290 nghìn tấn bôxit cấp C1
+ C2, chất lượng thấp, trong
đó cấp C1
là 960 nghìn tấn. Bôxit loại
này có thể dùng làm chất trợ chảy trong lò Mactin. Nhìn chung nhóm mỏ bôxit Bắc
Sơn quy mô không lớn, chất lượng không cao, không có loại bôxit đáp ứng yêu cầu
sử dụng cho phương pháp Bayer để chế biến.
Ngoài ra trong vùng bôxit Lạng
Sơn còn có 1 số điểm quặng bôxit như Nà Đông, La Chế, Nà Nậm, Cầu Hin, Đôn Úy,
Mỏ Tát...
1.1.1.2. Vùng bôxit Cao Bằng
Vùng bôxit Cao Bằng nằm trong
tỉnh Cao bằng là một vùng bôxit có triển vọng lớn. Các mỏ bôxit đã biết nằm ở
phía Tây Bắc, Bắc và Đông Nam thị xã Cao Bằng, tạo nên 3 nhóm mỏ Táp Ná, Hà
Quảng và Quảng Hòa. Các nhóm mỏ Táp Ná, Hà Quảng có triển vọng lớn về mặt địa
chất, song ít thuận lợi về mặt kinh tế, còn nhóm mỏ Quảng Hòa ít có triển vọng
về mặt địa chất, song điều kiện kinh tế thuận lợi hơn.
Vùng bôxit phân bố ở phía Tây
Bắc, Bắc và Đông Nam thị xã Cao Bằng. Trữ lượng bôxit là cấp B + C1 + C2 + P =
76826 ngàn tấn, trong đó cấp P (tài
nguyên) = 23291 ngàn tấn.
a. Nhóm mỏ Táp Ná
Nhóm mỏ Táp Ná ở phía Tây Bắc
thị xã Cao Bằng thuộc huyện Thông Nông và Nguyên Bình được phát hiện năm 1960.
Đây là là nhóm mỏ có triển vọng nhất trong vùng bôxit Cao Bằng, gồm các khu Phu
Luông, Bô Rách, Táp Ná, Lũng Giang, Pắc Thảy và Tĩnh Túc. Nhóm mỏ Táp Ná gồm 2
loại bôxit : quặng gốc và quặng deluvi
(sa
khoáng). Các thân quặng bôxit gốc đã được phát hiện ở Táp Ná, Lũng Móc, Lũng
Sứa, Keo Bao, Nậm Ngũ, Lũng Giang, Lũng Nạn, Lũng Luông.
b. Nhóm mỏ Hà Quảng
Nhóm mỏ Hà Quảng ở về phía Bắc
thị xã Cao Bằng, phần lớn thuộc huyện Hà Quảng. Các mỏ đã biết gồm những thân
quặng bôxit deluvi và bôxit gốc. Các mỏ Sóc Giang, Tông Cang, Nà Giàng, Chăm Ché
và Nà Thang đã được thăm dò sơ bộ, còn các mỏ Lũng Luông, Tông Pô, Ma Líp, Đại
Tổng (Kinh
Tử) và Lũng Nội đã được tìm kiếm bằng phương pháp lộ trình địa chất theo tỉ lệ
1/100.000. Phần lớn các mỏ đều nằm gần đường ô tô Cao Bằng - Sóc Giang và có thể
khai thác bằng phương pháp lộ thiên.
c. Nhóm mỏ Quảng Hòa
Các nhóm mỏ Tà Lùng và Quảng
Uyên gộp chung thành nhóm mỏ Quảng Hòa. Các mỏ của nhóm mỏ này nằm trong huyện
Quảng Hòa, Đông Nam thị xã Cao Bằng, và phân bố dọc đường ô tô Cao Bằng - Phục
Hòa - Lạng Sơn.
Nhóm mỏ Quảng Hòa gồm phần lớn
là những thân quặng bôxit deluvi nhỏ, phần lớn trữ lượng là quặng bôxit chất
lượng thấp. Hiện tại nhóm mỏ không có giá trị công nghiệp đáng kể.
1.1.1.3. Vùng bôxit Hà Giang
Vùng bôxit Hà Giang nằm trong
tỉnh Hà Giang gồm các nhóm mỏ Khao Lộc, Đồng Văn, Lũng Phìn và Mèo Vạc. Nhiều
điểm mỏ quặng bôxit trầm tích đã được phát hiện trên các vùng Quản Bạ, Đồng Văn,
Mèo Vạc. Nhìn chung, mức độ nghiên cứu trên toàn tỉnh còn thấp nên chưa thể đánh
giá được giá trị thương mại của chúng, ngoại trừ khu Mèo Vạc được nghiên cứu kỹ
hơn cả và trữ lượng cũng chỉ đạt cấp C1. Trữ lượng quặng bôxit toàn
vùng được đánh giá cấp C1 + C2 + P = 49323 ngàn tấn, trong đó cấp P = 32995 ngàn
tấn.
1.1.1.4. Vùng bôxit Sông Đà
Vùng bôxit Sông Đà phân bố dọc
bờ phải khúc uốn sông Đà ở Đông Nam thị xã Lai Châu. Triển vọng trữ lượng chưa
được đánh giá.
1.1.1.5. Vùng bôxit Nghệ An
Phạm vi phân bố bôxit tìm thấy
ở các huyện Quỳ Châu và Quỳ Hợp tỉnh Nghệ An. Những điểm bôxit đã biết nằm ở
phần rìa Đông Nam của khối nâng Phu Hoạt và có liên quan về không gian với đá
vôi, đá vôi đá hoa hóa.
Các điểm bôxit Châu Tiến, Đò
Ham và Khe Bân ở gần đường ô tô số 48 và Sông Hiếu là những thành tạo deluvi
trong vùng địa hình cactơ, với các tảng, mảnh bôxit kích thước đến 3m nằm trong
tầng trầm tích cát sét dày đến 15m. Bôxit cứng chắc màu nâu đỏ, xám xanh, kiến
trúc hạt đậu, dạng cát kết. Thành phần hóa học như sau
(%):
Al2O3: 36 - 59; SiO2: 5,9 - 18,8; Fe2O3:
10 - 32; TiO2: 3 - 9; MKN: 7,4 - 14,6. Trữ lượng dự tính ở 3 điểm
quặng trên khoảng 4,5 triệu tấn.
1.1.1.6. Các mỏ và điểm quặng
bôxit khác
Ngoài 5 vùng bôxit nêu trên,
Miền Bắc Việt Nam còn có các mỏ bôxit trầm tích nằm ở những vùng riêng lẻ khác
như mỏ Lỗ Sơn (Hải
Hưng).
+ Mỏ Lỗ Sơn
Mỏ Lỗ Sơn nằm cạnh làng Lỗ Sơn
thuộc Kinh Môn, tỉnh Hải Hưng, cách Hà Nội 75km. Đến mỏ có thể đi bằng đường ô
tô và đường thủy. Mỏ đã được khai thác và chở sang Nhật Bản 28,5 nghìn tấn bôxit
từ 1937 - 1943.
Thân quặng ở đây dài 346m, rộng
96m, độ dày dao động từ 0,3 đến 12m, trung bình 3m. Hàm lượng trung bình của
bôxit (%):
Al2O3: 52,42; SiO2: 6,36; Fe2O3:
26,13; TiO2: 2,12; CaO: 0,53; MgO: 0,24; CO2: 1,10; MKN:
12,47. Trữ lượng đã thăm dò: B + C1
là 122 nghìn tấn.
Quy mô mỏ nói chung thuộc loại
nhỏ. Tuy vậy có thể khai thác dễ dàng bằng phương pháp lộ thiên; điều kiện thủy
địa chất thuận lợi, hiện tại Nhà máy Đá mài Hải Dương đang khai thác bôxit để
sản xuất bột corindon.
1.1.2. Đặc điểm chất lượng
quặng
Theo điều kiện thành tạo và
thành phần vật chất, quặng bôxit trầm tích được phân làm 2 loại quặng gốc và
quặng sa khoáng.
Các thân quặng gốc thường nằm
trong tầng bôxit gồm có bôxit, alit, đá phiến sét, phiến sét than và phiến
silic. Chất lượng quặng tùy thuộc vào từng mỏ, thay đổi từ thấp, hàm lượng Al2O3:
41% - 47%; SiO2: 5,5% - 14%
(mỏ Táp Ná) đến
trung bình, hàm lượng Al2O3: 49,51%; SiO2:
12,68%; Fe2O3: 22,19%; TiO2: 2,67%; CaO: 0,73%;
SO3: 0,17%; FeO: 3,6%; MKN: 12,72% (mỏ
Tam Lung) và khá cao, hàm lượng Al2O3: 49,10% - 56,90%;
SiO2: 11,60% - 12,21%; Fe2O3: 9,76 - 25,24%;
TiO2: 2,50% - 6,76% (mỏ
Mèo Vạc). Thành phần khoáng vật quặng gồm điaspor, bơmit, hydrohematit,
caolinit...
Quặng sa khoáng là sản phẩm của
quá trình phong hóa, phá hủy quặng gốc tại chỗ
(sa khoáng eluvi),
vận chuyển và tích tụ ở sườn đồi hoặc sườn núi (deluvi)
hoặc vận chuyển xa hơn và lắng đọng tại các thung lũng
(aluvi).
Nhìn chung quặng sa khoáng nguyên khai có lượng thấp vì lẫn nhiều các đất, đá
vụn, các vật liệu không chứa quặng, do đó để nâng cao chất lượng, người ta
thường phải tuyển đãi bằng phương pháp thông thường. Tinh quặng thu được có thể
sử dụng để sản xuất alumin bằng phương pháp Bayer hoặc thiêu kết. Thành phần
khoáng vật quặng thường gồm điaspor và bơmit.
1.2. Các mỏ, điểm quặng
bôxit phong hóa laterit
Theo kết quả điều tra thăm dò
địa chất, các mỏ bôxit nguồn gốc phong hóa laterit chiếm ưu thế tuyệt đối về quy
mô trữ lượng. Ở
Miền Bắc, thành tạo bôxit
laterit được phát hiện ở Điện Biên Phủ, bôxit hình thành trong vỏ phong hóa đá
bazan. Thành phần khoáng chủ yếu là gipxit, ít hơn có bơmit và điaspor. Điểm mỏ
này đã được khảo sát từ những năm 1970, song chưa rõ triển vọng. Ngoài ra, ở một
số nơi khác như Phủ Quỳ - Nghệ An; Tân Phủ, Tuyên Quang cũng có biểu hiện của
quặng bôxit laterit.
Ở
Miền Nam, các mỏ bôxit
laterit phát triển rộng rãi ở hầu hết các tỉnh Tây Nguyên.
1.2.1. Vị trí, quy mô trữ
lượng
Kết quả hoạt động địa chất từ
trước tới nay đã xác minh và khẳng định quy mô trữ lượng tầm cỡ thế giới của
bôxit laterit trên cao nguyên Miền Nam. Các mỏ và điểm quặng tập trung thành các
vùng : Đắc Nông, Bảo Lộc - Di Linh, Vân Hoà
(Phú Yên),
Conplong-An Khê (Công
Tum), Phước Long.
Bảng 10. Đặc điểm quy mô trữ
lượng các mỏ bôxit Miền Nam
|
TT |
Tên mỏ
(khu
mỏ) |
Trữ lượng tinh quặng
(triệu
tấn) |
Trữ lượng quặng nguyên khai |
|
(B
+ C1) |
C2 |
P |
Cộng |
|
I |
Vùng Đắc Nông |
103,14 |
1.169,17 |
|
1.272,41 |
2.678,75 |
|
1 |
Mỏ 1 - 5 |
103,14 |
64,49 |
|
167,63 |
335,00 |
|
2 |
Quảng Sơn |
|
164,50 |
|
164,50 |
362,50 |
|
3 |
Nhân Cơ |
|
164,54 |
|
164,54 |
359,26 |
|
4 |
Gia Nghĩa |
|
155,63 |
|
155,63 |
311,56 |
|
5 |
Bắc Gia Nghĩa |
|
188,94 |
|
188,94 |
401,06 |
|
6 |
Đắc Song |
|
188,47 |
|
188,47 |
372,47 |
|
7 |
Tuy Đức |
|
242,70 |
|
242,70 |
536,90 |
|
II |
Vùng Bảo Lộc - Di Linh |
|
|
|
313,05 |
763,40 |
|
1 |
Bảo Lộc |
45,30 |
91,16 |
- |
136,04 |
378,00 |
|
2 |
Tân Rai |
57,08 |
119,51 |
- |
176,59 |
385,40 |
|
III |
Vân Hòa |
10,80 |
- |
- |
10,80 |
24,30 |
|
IV |
Conplong - An Khê |
|
|
|
161,20 |
367,30 |
|
1 |
Măng Đen |
|
87,50 |
- |
87,50 |
156,80 |
|
2 |
Kon - Hà Nừng |
|
73,72 |
- |
73,72 |
210,50 |
|
V |
Phước Long |
|
26,25 |
116,85 |
143,10 |
216,68 |
|
|
Tổng cộng |
|
|
|
1.901,16 |
4.050,43 |
1.2.2. Đặc điểm địa chất
Quặng bôxit laterit Miền Nam
được thành tạo trong vỏ phong hóa phát triển trên đá bazan có tuổi N2
- Q1. Mặt cắt
đầy đủ của vỏ phong hóa với sự phân đới khá rõ tính từ dưới lên gồm:
- Đới dập vỡ cơ học
(bazan
bán phong hóa) gồm bazan nứt nẻ bị vỡ vụn.
- Đới Saprolit gồm chủ yếu là
sét chứa các "nhân" bazan còn tươi. Chiều dày đới 0 - 6m.
- Đới litoma gồm sét sặc sỡ,
đôi chỗ còn sót lại cả "nhân" bazan biến đổi yếu. Chiều dày đới thay đổi mạnh,
có khi đạt tới 20m.
- Đới chứa bôxit gồm alit và
bôxit. Đới này thường có màu nâu đỏ. Bề dày có khi lên tới 14 - 15m.
Thành phần trong vỏ phong hóa
biến đổi theo quy luật khá rõ rệt ở từng đới. Hàm lượng oxyt silic giảm dần từ
dưới lên, song đến đới bôxit chúng giảm đột ngột
(tới
5 - 12 lần).
Trong đá bazan tươi và bán
phong hóa, hàm lượng SiO2
= 53%; còn trong dưới
bôxit hàm lượng của nó xấp xỉ từ 3 - 15%.
Hàm lượng oxyt nhôm tăng dần từ
dưới lên. Trong đá mẹ hàm lượng Al2O3
= 14 - 17%, trong đới bôxit chỉ số này
là 30 - 45%. Cũng tương tự như vậy hàm lượng TiO2, Fe2O3
đều có quy luật
tăng dần từ dưới lên. Ngược lại hàm lượng FeO, R2O phát triển theo
quy luật giảm dần từ dưới lên trên.
1.2.3. Đặc điểm chất
lượng
Quặng bôxit Miền Nam được hình
thành do quá trình phong hóa chưa chín muồi đá phun trào bazan N1
- Q1. Quặng nguyên khai có
chất lượng kém. Sau khi tuyển rửa bằng phương pháp thông thường, chất lượng
bôxit đạt loại trung bình, đáp ứng yêu cầu sản xuất nhôm bằng phương pháp Bayer.
Ở
những vùng khác nhau, chất lượng quặng bôxit nguyên khai và tinh
quặng khác nhau, song không đáng kể. Về thành phần hóa học, khoáng vật và đặc
biệt là đặc tính công nghệ các loại quặng hầu như không có sự khác nhau, hơn nữa
chúng được phân bố không theo quy luật nhất định và khả năng khai thác riêng
từng loại là không thực hiện được, do vậy các dạng quặng này thường được gộp
chung vào một.
2. Tình hình khai thác,
nghiên cứu, chế biến quặng bôxit Việt Nam, xu hướng phát triển
Công nghiệp khai thác bôxit ở
nước ta còn rất nhỏ bé. Thời Pháp thuộc ở mỏ Lỗ Sơn
(Hải
Dương) khai thác được khoảng 36 ngàn tấn. Sau hòa bình lập lại, hàng năm quặng
bôxit ở đây vẫn tiếp tục được khai thác với sản lượng rất nhỏ. Ngoài ra các mỏ ở
Lạng Sơn, Cao Bằng cũng được khai thác thủ công để cung cấp cho một số nhà máy
sản xuất xi măng (Hoàng
Thạch) hoặc bán sang Trung Quốc.
Ở
Miền Nam, năm 1977 mỏ Đồi Nam Phương
được chính thức đưa vào khai thác với công suất thiết kế 10.000 tấn tinh quặng/
năm để cung cấp quặng bôxit cho nhà máy sản xuất phèn chua COPHATA
(nay
là Nhà máy Hóa chất Tân Bình). Cho tới nay xí nghiệp khai thác, tuyển khoáng vẫn
tiếp tục sản xuất ổn định và không ngừng phát triển đáp ứng yêu cầu sản xuất
không những phèn chua mà cả nhôm hydroxit. Công nghệ khai thác: ô tô - máy xúc.
Công tác bảo vệ và khôi phục môi trường được quan tâm thích đáng.
IV. CÔNG
NGHỆ LÀM GIÀU, CHẾ BIẾN QUẶNG BÔXIT
1. Công
nghệ làm giàu quặng bôxit
90% sản lượng bôxit của thế
giới được sản xuất bằng công nghệ Bayer, nhưng công nghệ này đòi hỏi bôxit có
hàm lượng SiO2
thấp. Bôxit có hàm lượng SiO2
hoạt tính > 5% không thể xử lý kinh tế
bằng phương pháp Bayer vì gây mất mát kiềm rất lớn theo bùn đỏ. Nhưng ngược lại,
nếu xử lý bằng công nghệ thiêu kết hoặc thiêu kết - Bayer
(hỗn hợp) thì tiêu
hao năng lượng lớn, thường gấp 2 - 4 lần công nghệ Bayer đơn thuần. Vì lẽ đó,
bôxit ở một số nước (Braxin,
Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam...) cần phải được làm giàu để giảm hàm lượng SiO2,
nâng tỉ lệ Al2O3/ SiO2
lên > 7, thích
hợp cho công nghệ Bayer.
Trên thế giới, các phương pháp
làm giàu đơn giản và phổ biến để giảm hàm lượng SiO2
trong bôxit là :
- Đập nghiền kết hợp với sàng
khô.
- Đập nghiền kết hợp với sàng
ướt (tuyển
rửa), là phương pháp phổ biến hơn
Bằng phương pháp tuyển rửa,
phần lớn SiO2
trong hạt mịn được loại bỏ theo quặng thải
(quặng
đuôi), có khi loại bỏ 50% như bôxit ở Braxin. Bôxit vùng Arkansas
(Mỹ)
có thành phần Al2O3: 50,4% và SiO2: 15,4%, khi
xử lý bằng phương pháp tuyển rửa thu được các sản phẩm như sau:
|
Cấp hạt |
Tỉ lệ, % |
Al2O3 |
SiO2, % |
|
< 150 mesh |
46,2 |
51,6 |
12,3 |
|
> 150 mesh |
53,8 |
50,8 |
4,3 |
Tương tự, bôxit latenit Việt
Nam cũng có thể được loại bỏ đáng kể lượng SiO2 bằng công nghệ tuyển
rửa đơn giản.
Từ bôxit nguyên khai có hàm
lượng Al2O3: 36 - 39%; SiO2: 6 - 13%, sau khi
tuyển rửa, loại bỏ cấp hạt < 1mm, thu được tinh quặng có hàm lượng Al2O3:
44 - 58%; SiO2: 1,6 - 4% với thực thu 44 - 50%.
Trong một số trường hợp, nếu
hàm lượng SiO2
cao nhưng tồn tại trong dạng kết tinh
bền vững, hạt thô (thạch
anh: quarzt) thì có thể cải tiến công nghệ xử lý bằng cách hòa tách ở nhiệt độ
thấp (áp
suất thường, 105 - 107oC), thời gian ngắn với nồng độ kiềm cao
(~
200 g/l Na2O).
Ngoài phương pháp làm giàu
quặng bôxit để giảm hàm lượng SiO2
trong một số vùng bôxit có hàm lượng
sắt cao và có từ tính (như
bôxit latenit ở vùng thềm lục địa đông Ấn Độ), người ta dùng phương pháp tuyển
từ ướt gradien cao, từ quặng bôxit nguyên khai có thành phần : Al2O3:
42,6 %; Fe2O3: 29,9%; TiO2: 2,5% thu được sản
phẩm (với
thực thu 80%) có thành phần : Al2O3 :58 - 60%, Fe2O3:
9 - 12%, TiO2: 0,75%
2. Công
nghệ sản xuất alumin
Quá trình sản xuất alumin thực
chất là quá trình làm giàu Al2O3, nhằm tách lượng Al2O3
trong bôxit ra khỏi các tạp chất khác.
Alumin thu được phải đảm bảo chất lượng cho quá trình điện phân trong bể muối
nóng chảy cryolit (Na3AlF6)
để thu được Al kim loại.
2.1. Phương pháp hỏa
luyện
Trong số các phương pháp hỏa
luyện thì phương pháp thiêu kết bôxit với Na2CO3
có sự tham gia của CaCO3
(gọi là phương pháp sôđa-vôi) là phương
pháp kinh tế và được ứng dụng công nghiệp. Phương pháp thiêu kết dùng để xử lý
quặng bôxit có chất lượng trung bình hoặc kém (hàm
lượng SiO2
cao) mà nếu xử lý bằng công nghệ Bayer
(công
nghệ thủy luyện) thì không có hiệu quả kinh tế.
Nguyên lý của phương pháp hỏa
luyện là: Thiêu kết hỗn hợp bôxit + Na2CO3
+ CaCO3
trong lò quay ở
nhiệt độ 1200oC để thực hiện các phản ứng sau:
Al2O3 +
Na2CO3 = 2 NaAlO2 + CO2
SiO2 + 2 CaCO3
= 2 CaO.SiO2 + 2CO2
NaAlO2
rắn trong thiêu kết phẩm dễ tan trong
nước. Còn 2CaO.SiO2
không tan trong nước và đi vào cặn thải
(bùn
thải).
Phương pháp thiêu kết có thể
được áp dụng độc lập hoặc kết hợp với phương pháp Bayer: song song hoặc nối
tiếp.