BFC đảm bảo khai thác hiệu quả Nhà máy phân bón mới      ---    Đôn đốc tiếp tục đảm bảo tiến độ vận tải quặng apatit      ---    Xây dựng Đề án hình thành Tập đoàn Hóa chất Việt Nam      ---    VINACHEM: Năm 2007 sản lượng phân bón đạt gần 3,5 triệu tấn      ---    CASUMINA: Xây dựng mục tiêu và tổ chức tốt phong trào thi đua      ---    VINACHEM: Hướng tới tập đoàn kinh tế mạnh, góp phần bình ổn giá phân bón      ---    VINACHEM: Đại hội CNVC lần thứ V      ---    VINACHEM: Ngành chất giặt rửa hoàn thành kế hoạch sản lượng 6 tháng đầu năm 2008      ---    LAFCHEMCO sản xuất gần 800 nghìn tấn phân bón
  Danh mục weblink

Cửa sổ mới   

  Tra công thức hóa học
  Tìm kiếm

Tới trang chủ English website Sàn giao dịch thương mại điện tử


GIỚI THIỆU CHUNG

Tên doanh nghiệp: TỔNG CÔNG TY HÓA CHẤT VIỆT NAM

Tên giao dịch: VIETNAM NATIONAL CHEMICAL CORPORATION

Tên viết tắt: VINACHEM

Địa chỉ: 1A Tràng Tiền - Hoàn Kiếm - Hà Nội

Điện thoại: 04.8240551

Fax: 04.8252995

Email: vinachem@hn.vnn.vn

Website: www.vinachem.com.vn

Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh

Địa chỉ: 22 Lý Tự Trọng, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

Điện thoại: 08.8225163

Fax: 08.8225893

Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam (VINACHEM) là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt, được thành lập theo Quyết định số 835 TTg ngày 20/12/1995, trên cơ sở thực hiện Quyết định số 91/TTg của Thủ tướng Chính Phủ.

Theo Quyết định 90/2006/QĐ-TTg ngày 24 tháng 4 năm 2006 của Thủ tướng Chính Phủ, Công ty mẹ - Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam được thành lập trên cơ sở Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam và hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con.

Các doanh nghiệp thuộc VINACHEM sản xuất, kinh doanh các sản phẩm đa dạng, bao gồm các lĩnh vực: phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất cơ bản, sản phẩm cao su (săm lốp ô tô, xe máy và cao su kỹ thuật), pin và ăcquy, chất giặt rửa và mỹ phẩm, sơn, que hàn và khí công nghiệp, khai khoáng, v.v... Trong nhiều năm qua, VINACHEM đã phát triển mạnh, sản lượng của nhiều sản phẩm chủ yếu đã tăng 10 lần so với ngày đầu thành lập. Nhiều sản phẩm chủ yếu của Tổng Công ty đã chiếm thị phần lớn tại thị trường trong nước như phân bón chứa lân, phân NPK, hóa chất cơ bản, chất giặt rửa, các loại săm lốp ôtô, xe máy, xe đạp... Với những đóng góp lớn lao cho nền kinh tế và phục vụ đời sống nhân dân, VINACHEM đã được tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất và nhiều phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước.

Để hoàn thành được mục tiêu trên, VINACHEM mong muốn được hợp tác với các đối tác và bạn hàng trong và ngoài nước trên cơ sở hai bên cùng có lợi.

BAN LÃNH ĐẠO

Ông Nguyễn Quốc Tuấn

Chủ tịch HĐQT

Ông Đỗ Duy Phi

Tổng Giám đốc

 

Hội đồng Quản trị

Chủ tịch: Ông Nguyễn Quốc Tuấn

Ủy viên:

Ông Đỗ Duy Phi

Ông Nguyễn Đình Khang

Ông Mai Ngọc Chúc

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn

Ông Nguyễn Gia Tường

Ông Lại Cao Hiến

 

 

Ban Tổng Giám Đốc

Tổng Giám đốc: Đỗ Duy Phi

Phó Tổng Giám đốc:

Ông Phạm Thanh Hoàng

Ông Nguyễn Duy Sỹ

Ông Hoàng Văn Liễu

Ông Nguyễn Gia Tường

Ông Chu Văn Tuấn

Ông Ngô Mạnh Hoài

 


CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ SẢN PHẨM

CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ

- Theo Quyết định thành lập Công ty mẹ - Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam (Quyết định số 90/2006/QĐ-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ).

- Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh công ty nhà nước số 0106000836 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 16/01/2007, Công ty mẹ - Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam kinh doanh ngành, nghề sau:

+ Đầu tư và kinh doanh vốn;

+ Quản lý phần vốn đầu tư vào các doanh nghiệp khác;

+ Kinh doanh xuất nhập khẩu các sản phẩm phân bón, hóa chất (Trừ hóa chất Nhà nước cấm), các loại máy móc thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ cho ngành hóa chất và các ngành kinh tế khác;

+ Khai thác và chế biến khoáng sản (Trừ loại khoáng sản Nhà nước cấm);

+ Kinh doanh các dịch vụ nhà nghỉ, văn phòng, du lịch (Không bao gồm kinh doanh quán bar, phòng hát Karaoke, vũ trường);

+ Thực hiện tư vấn, thi công các công trình xây dựng công nghiệp, dân dụng (Không bao gồm dịch vụ thiết kế công trình);

+ In ấn phẩm (Theo quy định của pháp luật);

+ Dịch vụ khoa học công nghệ.

SẢN PHẨM

Tổng công ty Hoá chất Việt Nam là một Tổng Công ty đa ngành, sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm khác nhau.Hiện tại tập trung vào một số nhóm chính sau:

- Nhóm sản phẩm phân bón.

- nhóm sản phẩm cao su.

- Nhóm sản phẩm hoá chất cơ bản.

- Nhóm sản phẩm các chất giặt rửa

- Nhóm sản phấm thuốc bảo vệ thực vật.

- Nhóm sản phẩm điện hoá ( pin và acquy).

- Nhóm sản phẩm sơn và chất dẻo.

- Nhóm sản phẩm từ công nghệ hoá dầu.

- Nhóm sản phẩm phục vụ ngành cơ khí và xây dựng ( que hàn và khí công nghiệp).


CƠ CẤU TỔ CHỨC

CÁC THỜI KỲ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA CHẤT VIỆT NAM


Công nghiệp hoá chất nước ta đã phôi thai từ trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp.

Trải qua trên năm mươi năm phát triển, Công nghiệp hoá chất đã có quy mô lớn, bao gồm nhiều phân ngành, thành phần kinh tế, trình độ công nghệ đã có bước thay đổi cơ bản với một đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ và công nhân kỹ thuật đông đảo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Công nghiệp hoá chất đã được hình thành từ nhu cầu của cuộc kháng chiến, với ba mục tiêu quan trọng: phục vụ quốc phòng, nông nghiệp và dân sinh. Trong thời kỳ này chúng ta đã sản xuất được thuốc nổ, ngòi nổ, than cốc dùng trong công nghiệp. Để phục vụ nông nghiệp, các xưởng phốt phát nghiền được xây dựng ở nhiều nơi. Ngoài ra chúng ta còn sản xuất được một số mặt hàng tiêu dùng thiết yếu như xà phòng, diêm, bát đĩa, đồ da thuộc. Để phục vụ yêu cầu in ấn, chúng ta còn sản xuất được cả giấy, mực in và tiến hành in tài liệu .

Hòa bình lập lại, ngành công nghiệp nói chung và Công nghiệp Hoá chất nói riêng chỉ bao gồm một số ít ỏi các cơ sở rất lạc hậu như Nhà máy xi măng Hải Phòng (phải ngừng sản xuất), một vài xí nghiệp tư nhân và 6 xí nghiệp hoá chất quốc doanh , đó là các xưởng phốt phát nghiền thủ công.

Ngay từ những năm 1950 -1960, một số cơ sở nghiên cứu và sản xuất thuộc ngành hoá chất được khôi phục lại hoặc thành lập mới và đã bắt đầu hoạt động có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế ở miền Bắc.

Trong khi các sản phẩm hoá chất tiêu dùng như xà phòng, thuốc đánh răng v.v...chủ yếu vẫn do công nghiệp địa phương sản xuất thì trước nhu cầu cấp thiết về phân bón cho nông nghiệp, ngay từ những ngày đầu tiên sau hoà bình lập lại, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định lấy Công nghiệp hoá chất làm động lực quan trọng để khôi phục và phát triển nông nghiệp. Trong thời kỳ này Mỏ Apatit Lào Cai đã được khôi phục sản xuất và ngay từ năm 1955, những tấn quặng apatit khai thác đầu tiên đã được cung cấp cho nhu cầu làm phân bón.

Trong giai đoạn cải tạo và phát triển công nghiệp (1958 -1960), chúng ta cũng hướng Công nghiệp hóa chất vào phục vụ sản xuất trong nước, đặc biệt phát triển nông nghiệp. Năm 1959 chúng ta đã khởi công xâu dựng Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao - con chim đầu đàn của ngành hoá chất thời kỳ đó - Tháng 4 năm 1962, Nhà máy đã chính thức đi vào hoạt động và xuất xưởng những tấn phân lân supe đầu tiên phục vụ nông nghiệp.

Phương hướng phát triển của Công nghiệp hoá chất (bao gồm cả sản xuất vật liệu xây dựng) trong thời kỳ này là:

- Sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ nông nghiệp.

- Phát triển mạnh vật liệu xây dựng đáp ứng nhu cầu xây dựng.

- Đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm phục vụ các ngành kinh tế khác (acqui, hơi kỹ nghệ, gạch chịu lửa v.v...)

- Đáp ứng nhu cầu dân sinh.

Trong giai đoạn này, Công nghiệp hoá chất là một trong những ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao nhất.

Về phân bón, từ sản lượng 6.000 tấn phốt phát năm 1955, thì năm 1960 đã đạt 541,4 nghìn tấn, trong đó apatit là 490 nghìn tấn và phốt phát nghiền là 49,7 nghìn tấn ( tăng hơn 90 lần).

Về xi măng, từ 8,4 nghìn tấn năm 1955, sản lượng năm 1960 đã đạt 407,9 nghìn tấn (tăng gần 50 lần).

Đặc biệt, trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất đã bắt đầu đưa ra thị trường hai mặt hàng tiêu dùng mới, đó là săm lốp xe đạp và đồ dùng bằng nhựa.

Nhìn chung, trong toàn bộ thời kỳ khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế kéo dài 6 năm, Công nghiệp hoá chất đã tiến một bước dài theo hướng phục vụ nông nghiệp, xây dựng cơ bản và tiêu dùng.

Trong bước đầu của nền công nghiệp Việt Nam, Công nghiệp hóa chất tại các địa phương có một vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu về mặt hàng tiêu dùng của nhân dân (xà phòng, thuốc đánh răng, sơn)... Thậm chí 45 tấn thuốc trừ sâu đầu tiên sản xuất tại Việt Nam vào năm 1960 cũng là của công nghiệp hoá chất địa phương.

Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Nhà máy

Supe phốt phát Lâm Thao (19/8/1962)

Thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965)

Đây là thời kỳ mà những kết quả đạt được của Công nghiệp hoá chất tuy chưa lớn, nhưng đối với một đất nước vừa thoát khỏi những năm dài chiến tranh, một đất nước nghèo nàn và lạc hậu, thì những thành tựu đạt được thật là to lớn và đáng tự hào.

Nhưng kế hoạch sản xuất chỉ được thực hiện không đầy 4 năm trong hoà bình. Sau đó chúng ta lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ. Mặc dù phần lớn các cơ sở công nghiệp ở miền Bắc nước ta đều bị đánh phá, toàn bộ nền kinh tế phải chuyển hướng cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh, nhưng các thành quả thu được cũng rất đáng kể, Công nghiệp hoá chất và vật liệu xây dựng vẫn có tốc độ tăng trưởng cao. Riêng Công nghiệp hoá chất tăng gấp 4,62 lần, hơn cả điện lực và cơ khí. Trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất chiếm 9,5% giá trị tổng sản lượng toàn ngành công nghiệp.

Trong kỳ kế hoạch 1961 - 1965, hàng loạt nhà máy lớn của Công nghiệp hóa chất như Supe phốt phát Lâm Thao, Hoá chất Việt Trì, Acquy Hải Phòng, Pin Văn Điển, Phân lân nung chảy Văn Điển v.v... đã được xây dựng và nhanh chóng đi vào sản xuất.

Nhờ có 2 nhà máy phân bón, kể từ năm 1961, lần đầu tiên nước ta đã sản xuất được phân lân chế biến. Sản lượng phân hoá học trong năm 1964 , năm cao nhất của thời kỳ kế hoạch, là 205,26 nghìn tấn, trong đó supe phốt phát là 135,88 nghìn tấn.

Sản lượng apatit nguyên khai cũng tăng nhanh chóng lên đến mức cao nhất vào năm 1964, đạt 864 ngàn tấn, trong đó 7.400 tấn được nghiền làm phân bón.

Trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất cũng bắt đầu sản xuất nhiều thuốc trừ sâu.

Ngành hóa chất cơ bản cũng bắt đầu hình thành với các sản phẩm như axit sunfuric, axit clohyđric, xút lỏng, clo lỏng.

Ngành năng lượng điện hóa đã bắt đầu cung cấp pin và acqui cho quốc phòng, đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh tế và tiêu dùng.

Ngành công nghiệp cao su cũng bắt đầu sản xuất được lốp ôtô với sản lượng ban đầu là 22,5 nghìn bộ (năm 1964) và sau đó, đưa lên 29 nghìn bộ (năm 1965) chưa kể một số lượng lớn lốp đắp, phục vụ kịp thời cho chiến đấu và sản xuất.

Các mặt hàng tiêu dùng cũng tăng nhanh sản lượng.

Trong lĩnh vực vật liệu xây dựng, sản lượng xi măng tăng đáng kể.

Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, mặc dù chịu nhiều tổn thất trong chiến tranh phá hoại của Mỹ, nhưng Công nghiệp hóa chất và vật liệu xây dựng vẫn tiếp tục phát triển, chiếm vị trí quan trọng trong công nghiệp. Cơ cấu ngành cũng có nhiều thay đổi. Lĩnh vực sản xuất tăng nhanh. Chúng ta đã có Công nghiệp hoá chất vô cơ cơ bản và năng lượng hoá học.

Đã hình thành ba khu công nghiệp hoá chất tập trung ở các khu vực : Hà Nội, Vĩnh Phú (Việt Trì - Lâm Thao) và Hải Phòng.

Thời kỳ chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ (1965 - 1975)

Trong thời kỳ này miền Bắc nước ta phải trải qua hai lần bị đánh phá nặng nề. Đây cũng là thời kỳ ngành hoá chất có một bước biến chuyển mới : Ngày 19 tháng 8 năm 1969, Nhà nước đã quyết định thành lập Tổng cục Hóa chất trực thuộc Chính phủ, đồng thời đây cũng là thời kỳ (trong vòng 10 năm) mà các cơ sở Công nghiệp hoá chất của miền Bắc phải vừa chiến đấu vừa sản xuất. Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do hai cuộc chiến tranh phá hoại gây ra, nhưng nhìn chung Công nghiệp hoá chất vẫn bảo đảm được tốc độ tăng trưởng trương đối cao. Giá trị tổng sản lượng năm 1975 tăng gấp 1,65 lần so với năm 1965.

Sản phẩm quan trọng nhất trong thời kỳ này là phân lân. Các sản phẩm trọng yếu khác của ngành đều phục hồi nhanh và vượt xa mức trước chiến tranh.

Trong 20 năm xây dựng và phát triển, từ hòa bình lập lại đến năm 1975, Công nghiệp hoá chất đã có bước phát triển rất to lớn. Về cơ cấu ngành, đã hình thành nhiều thành phần kinh tế - kỹ thuật thiết yếu trong nền kinh tế quốc dân:

- Công nghiệp sản xuất phân bón, thuốc trừ dịch hại và các hoá chất phục vụ nông nghiệp khác.

- Công nghiệp mỏ phục vụ ngành hoá chất

- Công nghiệp cao su.

- Công nghiệp hoá chất cơ bản

- Công nghiệp pin - acquy

- Công nghiệp xà phòng

- v.v...

Trong Công nghiệp hoá chất còn có các phân ngành như : silicat (chủ yếu sản xuất vật liệu xây dựng, xi măng), vật liệu chịu lửa, các mặt hàng gốm sứ, thuỷ tinh dùng trong công nghiệp và dân dụng,v.v...Trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất tại các doanh nghiệp nhà nước là trụ cột của ngành. Có thể nói Công nghiệp hoá chất là một trong những ngành đã thể hiện rõ rệt tính chủ đạo của công nghiệp quốc doanh. Các doanh nghiệp nhà nước đã bảo đảm được gần 70% giá trị tổng sản lượng toàn ngành.

Các hóa chất cơ bản như xút, clo (cho công nghiệp giấy, công nghiệp thực phẩm và xử lý nước), axit sunfuric ( cho công nghiệp acquy,sản xuất phèn) v.v... cũng hoàn toàn do các cơ sở quốc doanh đảm nhiệm. Tất cả các hoá chất và sản phẩm liên quan đến hoá chất cần thiết cho quốc phòng đều do Tổng cục Hóa chất sản xuất theo kế hoạch đặc biệt nhằm đáp ứng các yêu cầu cụ thể.

Ngoài sản xuất, khu vực nghiên cứu thiết kế cũng được hình thành. Trong ngành có hai cơ quan khoa học là Viện Hoá học Công nghiệp (thành lập năm 1955) Và Viện Thiết kế Hoá chất (thành lập năm 1967).

Ngành có một trường đào tạo kỹ thuật viên, hai trường đào tạo công nhân kỹ thuật và một trường quản lý kinh tế.

Thời kỳ kế hoạch 5 năm (1976 - 1980)

Đất nước thống nhất và giải phóng miền Nam, chúng tiếp quản được hàng loạt xí nghiệp công nghiệp, trong đó có các xí nghiệp hóa chất, mà phần lớn là loại nhỏ.

Công nghiệp hoá chất thuộc loại có tỷ trọng đầu tư cao nhất của ngành công nghiệp miền Nam và tập trung chủ yếu vào các sản phẩm tiêu dùng. Các sản phẩm như săm lốp xe đạp và xe máy, pin - ăcquy, sơn, xà phòng, thuốc đánh răng, chất tẩy rửa và nhất là hàng nhựa là các sản phẩm có sản lượng lớn và khá phong phú về chủng loại, nhưng lĩnh vực phân bón chỉ có phân trộn và photphorit nghiền với sản lượng thấp.

Trong thời kỳ này, một mặt, sau khi cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam, chúng ta đã sáp nhập nhiều công ty nhỏ và thành lập nhiều công ty thuộc những phân ngành kinh tế kỹ thuật khác nhau, có quy mô lớn hơn. Tại miền Bắc nhiều nhà máy hoá chất cũng được cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng mới. Đặc biệt, trong thời kỳ này để thực hiện mục tiêu 1,3 triệu tấn phân hóa học đề ra cho kế hoạch 5 năm, chúng ta đã nhanh chóng xây dựng nhiều cơ sở nghiền apatit để dùng trực tiếp làm phân bón. Kết quả là từ năm 1976 đến 1980 số xí nghiệp của Tổng cục Hóa chất đã tăng liên tục từ 71 lên 111, tăng gần 1,6 lần.

Tuy nhiên, do tình hình thế giới và khu vực rất phức tạp, việc Mỹ và một số nước phương tây thi hành chính sách cấm vận đối với nước ta, mà từ năm 1978 sản lượng toàn ngành công nghiệp giảm sút nhanh.

Công nghiệp hóa chất nằm trong bối cảnh chung của đất nước, cộng thêm sự giảm sút về nguyên liệu nhập khẩu, nên chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, trong năm 1980 chỉ số phát triển của Công nghiệp hoá chất trung ương đã giảm, chỉ còn bằng 94% so với năm 1976.

Thời kỳ kế hoạch 5 năm (1981 - 1985)

Công nghiệp hóa chất là một trong số những ngành có tốc độ tăng trưởng cao trong kỳ kế hoạch này. Giá trị tổng sản lượng năm 1985 gấp 1,8 lần năm 1980. Công nghiệp hóa chất cũng là một trong những ngành chiếm tỷ trọng cao nhất trong ngành công nghiệp, tới 10,6% vào năm 1985.

Trong kỳ kế hoạch này, nhờ Nhà máy Phân lân Ninh Bình đi vào sản xuất và Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao tiếp tục mở rộng, đưa công suất lên 300 nghìn tấn/năm, nên sản lượng phân lân chế biến năm 1985 đã tăng gấp 1,5 lần so với năm 1980. Sản lượng thuốc trừ sâu cũng tăng gấp 2,2 lần. Các sản phẩm chủ yếu khác như các hóa chất vô cơ cơ bản và nhất là các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu của ngành như săm lốp xe đạp, pin, chất tẩy rửa v.v... đều tăng sản lượng và số mặt hàng. Tuy nhiên, các sản phẩm phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu đều bị giảm. Điển hình là săm lốp ôtô, thuốc đánh răng và xà phòng thơm.
 

Thời kỳ kế hoạch 5 năm (1986 - 1990)

Trong kỳ kế hoạch này, nhờ có những đổi mới trong chính sách và cơ chế của Nhà nước, nên nhìn chung, sản xuất công nghiệp khá phát triển. Công nghiệp hóa chất thuộc những ngành có tốc độ tăng trưởng cao. Bình quân trong 3 năm đầu, tốc độ tăng trưởng đạt khoảng 6% mỗi năm.

Tuy nhiên, vì là một ngành sản xuất phụ thuộc nhiều nguyên liệu nhập khẩu nên Công nghiệp hóa chất chịu tác động mạnh của cơ chế hai giá và các chính sách khác từ khi chuyển sang cơ chế thị trường. Sản lượng của nhiều ngành sản xuất trong Công nghiệp hóa chất bị giảm sút.

Trong kỳ kế hoạch này, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của ngành, chủ yếu đầu tư sản xuất các mặt hàng tiêu dùng như xà phòng, thuốc đánh răng, săm lốp xe đạp... vẫn phát triển khá.

Trong giai đoạn này khu vực quốc doanh, chủ yếu là các doanh nghiệp thuộc Tổng cục Hóa chất, đã nhanh chóng vượt qua nhiều thử thách và vẫn giữ được vai trò chỉ đạo trong việc phát triển của Công nghiệp hóa chất nước ta.
 

Thời kỳ kế hoạch 5 năm (1991 - 1995)

Có thể nói kế hoạch 5 năm 1991 - 1995 là kế hoạch đầu tiên thực hiện theo cơ chế kế hoạch hóa có tính định hướng, giao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, ngoại trừ một số sản phẩm đặc biệt trong ngành sản xuất phân bón là được giao theo chỉ tiêu pháp lệnh.

Bước vào kỳ kế hoạch này về tổ chức cũng có một số thay đổi: Bộ Công nghiệp nặng được thành lập lại; Tổng cục Hóa chất chấm dứt sự tồn tại và trên cơ sở cơ chế quản lý mới, Nhà nước đã thành lập 2 Tổng Công ty quản lý các doanh nghiệp thuộc Tổng cục Hóa chất trước đây: Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Cơ bản ; Tổng Công ty Hóa chất Công nghiệp và Hóa chất Tiêu dùng.
Trong thời kỳ này, Công nghiệp hóa chất đạt tốc độ tăng trưởng rất cao, bình quân đạt mức gần 20% trong suốt thời kỳ kế hoạch, cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân toàn ngành công nghiệp.

 


SỰ RA ĐỜI CỦA TỔNG CÔNG TY HÓA CHẤT VIỆT NAM

Trong nửa đầu thập kỷ 90 của Thế kỷ XX, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh hoạt động trong lĩnh vực hóa chất phát triển nhanh. Đã xuất hiện những công ty liên doanh sản xuất chất tẩy rửa như P&G Việt Nam, Unilever Haso, Unilever Viso, mà các đối tác là những tập đoàn xuyên quốc gia rất mạnh trên thế giới. Trong những lĩnh vực này, các xí nghiệp quốc doanh ở các địa phương và tư doanh cũng phát triển khá. Trong lĩnh vực chất dẻo, acqui, cao su, hóa chất cơ bản, thậm chí cả phân bón và thuốc bảo vệ thực vật..., các hoạt động đầu tư của nước ngoài cũng đã bắt đầu chuyển động. Trong khi đó, các công ty quốc doanh đều là những doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí rất nhỏ.

Nhu cầu khách quan đã đặt ra vấn đề hình thành một tổng công ty đủ mạnh để đảm bảo sức cạnh tranh trên thị trường, đủ khả năng huy động vốn, đổi mới công nghệ và nhất là đầu tư vào những công trình trọng yếu có qui mô lớn và công nghệ hiện đại.

Trên cơ sở Quyết định số 835/TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 20 tháng 12 năm 1995 Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam theo mô hình tổng công ty mạnh được thành lập, trên cơ sở sáp nhập Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất cơ bản với Tổng Công ty Hóa chất công nghiệp và Hóa chất tiêu dùng.

Xuất phát từ tình hình thực tế trong nước và xu hướng hội nhập vào thị trường thế giới, trong kỳ kế hoạch 5 năm 1996 - 2000 Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam đã đề ra các mục tiêu chiến lược:

- Phát triển sản xuất trên cơ sở tích cực đổi mới công nghệ nhằm giảm tiêu hao nguyên vật liệu, năng lượng, nâng cao chất lượng, hạ giá thành, bảo đảm sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu.

- Tập trung vào những lĩnh vực có tính chất then chốt với nền kinh tế quốc dân, bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đó là:

+ Công nghiệp sản xuất các hóa chất, sản phẩm phục vụ nông nghiệp.

+ Công nghiệp cao su

+ Công nghiệp sản xuất các hóa chất cơ bản

- Xây dựng chiến lượng dài hạn đến năm 2015 và tích cực chuẩn bị đầu tư cho thời kỳ 2000 - 2005

Liên tục trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng của Tổng Công ty Hoá chất Việt nam thuộc loại cao trong ngành công nghiệp:

- Năm 1996 tăng 15,9% so với năm 1995

- Năm 1997 tăng 16,52% so với năm 1996

- Năm 1998, mặc dù khủng hoảng kinh tế xảy ra ở Châu A từ cuối năm 1997 và lên đến đỉnh cao trong năm 1998 làm nền kinh tế nước ta bị ảnh hưởng, nhưng tốc độ tăng trưởng của Tổng Công ty vẫn cao, tăng 11,3% so với năm 1997.

- Năm 1999 tăng 15,5% so với năm 1998

- Năm 2000 tăng 18,3% so với năm 1999

- Năm 2001 tăng 7,6% so với năm 2000. Có thể nói năm 2001 là năm sản xuất và tiêu thụ phân bón giảm sút chưa từng có (sản lượng các loại phân bó toàn Tổng Công ty chỉ đạt 1.900.000 tấn, bằng 91% năm 2000), hơn nữa sản xuất phân bón lại chiếm tỷ lệ rất cao trong thị phần các sản phẩm của Tổng Công ty. Đây chính là lý do sụt giảm sản xuất tại thời kỳ. Tuy nhiên Lãnh đạo Tổng Công ty và các đơn vị thành viên đã kịp thời có các biện pháp hữu hiệu hạn chế và tháo gỡ các khó khăn trong sản xuất. Trong 10 tháng đầu năm 2002, mức tăng trưởng của Tổng Công ty đã trở lại con số khoảng trên 14%.

Tổng Công ty đã thực hiện được những giải pháp có tính chiến lược quan trọng:

- Lấy thị trường trong nước làm mục tiêu phục vụ chủ yếu, đồng thời chú trọng đẩy mạnh thị trường xuất khẩu, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

- Trên cơ sở nắm vững thông tin về thị trường, đánh giá đúng chu kỳ của sản phẩm và dự báo chính xác xu thế thị trường, tiến hành đầu tư chiều sâu, tập trung và dứt điểm cho các dự án ưu tiên.

- Lấy việc đổi mới công nghệ làm nền tảng cho sự phát triển của doanh nghiệp.

- Sự chỉ đạo tập trung của Tổng Công ty và sự phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đơn vị thành viên tạo nên sức mạnh tổng hợp đề toàn Tổng Công ty đủ sức cạnh tranh trên thị trường.


MỘT SỐ NGÀNH SẢN XUẤT QUAN TRỌNG NHẤT CỦA TỔNG CÔNG TY HÓA CHẤT VIỆT NAM

Phân bón

Do tầm quan trọng của công nghiệp sản xuất phân bón, Nhà nước đã quan tâm và sớm đầu tư các nhà máy sản xuất phân bón. Hai nhà máy phân bón sản xuất phân lân chế biến đầu tiên của nước ta - Nhà máy Supephốt phát Lâm Thao và Nhà máy Phân lân Nung chảy Văn Điển - đã được xây dựng ngay từ trước kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.

Đến nay, đã có thêm nhiều loại phân bón sản xuất trong nước như urê, phân hỗn hợp NPK, phân hữu cơ vi sinh, phân bón lá...

Các cơ sở sản xuất phân bón đã rất chú ý nghiên cứu, sản xuất những loại phân bón hỗn hợp phù hợp với từng vùng thổ nhưỡng, cho từng loại cây trồng như lúa, màu và các cây công nghiệp, đồng thời tăng tổng lượng dinh dưỡng trong để nâng cao hiệu quả sử dụng sản phẩm. Từ vài ba loại sản phẩm phân bón với tổng hàm lượng các chất dinh dưỡng trong những năm đầu không quá 18%, đến nay, đã đưa lên tới hàng trăm loại sản phẩm với tổng hàm lượng dinh dưỡng đạt 40 - 55%. Mẫu mã sản phẩm cũng được cải tiến nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

Sản lượng phân bón cũng tăng lên nhanh chóng. Từ chỗ cả nước chỉ sản xuất được hơn 6.000 tấn phốt phát nghiền vào năm 1955, đến nay năng lực sản xuất của cả ngành, ước tính có thể lên tới 3 triệu tấn phân bón các loại, đảm bảo hoàn toàn các yêu cầu về phân lân chế biến, một phần yêu cầu về phân đạm, phần lớn yêu cầu về phân hỗn hợp NPK cho nông nghiệp.

Vào những năm cuối của thế kỷ XX, ở nước ta sản xuất phân bón là lĩnh vực mà trong hoạt động đổi mới công nghệ đã phát huy được nhiều nhất tiềm lực công nghệ trong nước.

Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao (Công ty Supe phốt phát và Hoá chất Lâm Thao) đã liên tiếp 4 lần được mở rộng công suất từ 100.000 tấn/năm lúc ban đầu lên 750.000 tấn/năm hiện nay. Các kỹ sư Việt Nam cũng đã tự thiết kế, xây dựng hoàn chỉnh và đưa vào sản xuất Nhà máy Supe phốt phát Long Thành trên cơ sở một số thiết bị lẻ của nước ngoài.

Tác động thúc đẩy sản xuất của đầu tư công nghệ chiều sâu diễn ra mạnh nhất trong lĩnh vực sản xuất phân lân nung chảy. Việc thiết kế lại và cải tiến lò cao cũng như áp dụng các giải pháp công nghệ mới sử dụng than antraxit thay than cốc, đóng bánh quặng vụn và sản xuất kết hợp với bảo vệ môi trường đã là những yếu tố góp phần vào sự thay đổi tiến bộ vượt bậc của các cơ sở sản xuất phân lân nung chảy ở nước ta.

Trong lĩnh vưc sản xuất phân đạm urê, với dây chuyền công nghệ sản xuất lạc hậu của Nhà máy phân đạm Hà Bắc do Trung Quốc giúp ta xây dựng từ những kế hoạch 5 năm đầu tiên, cán bộ và công nhân Nhà máy đã vận hành dây chuyền ổn định đạt và vượt công suất thiết kế, góp phần đáp ứng một phần yêu cầu phân đạm cho nông nghiệp nước ta.

Ngoài việc đáp ứng nhu cầu trong nước, một số sản phẩm phân bón của Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam đã được chào hàng và xuất khẩu ra nước ngoài.

Để tìm hiểu rõ hơn xin xem mục Phân bón

Thuốc bảo vệ thực vật

Trong thời kỳ đầu ( 1964), chúng ta đã sản xuất được một số thuốc bảo vệ thực vật, chủ yếu là các loại thuốc trừ sâu có chứa hoạt chất 666 (sản phẩm của Nhà máy Hóa chất Việt Trì).

Trong thời gian này ở Viện Hóa học Công nghiệp và một số cơ sở sản xuất hóa chất đã có các tổ nghiên cứu và sản xuất thử các loại nông dược.

Kể từ năm 1975, ngành công nghiệp hóa chất có một công ty ( Công ty Thuốc sát trùng Việt Nam) chuyên sản xuất các sản phẩm nông dược.

Sản lượng thuốc trừ dịch hại của ngành đã tăng nhanh, từ 3.121 tấn vào năm 1969 lên đến 16.360 tấn vào năm 1999. Đến nay, về cơ bản chúng ta đã có đủ thuốc ngăn chặn các vụ dịch hại trong nông nghiệp.

Ngoài các loại thuốc trừ sâu đáp ứng nhu cầu nông nghiệp, còn sản xuất các sản phẩm gia dụng, vệ sinh phòng dịch.Đây là các sản phẩm vừa đáp ứng nhu cầu trong nước, vừa xuất khẩu. Chất lượng các chế phẩm cũng được luôn luôn cải tiến, thay đổi nhằm đáp ứng hiệu quả và hướng tới các yêu cầu an toàn vệ sinh thực phẩm và môi trường.

Về phương diện công nghệ, từ chỗ hoàn toàn mang tính chất gia công, thiết bị đơn giản và chế tạo ở trong nước, đến nay ở các cơ sở sản xuất đã được trang bị các thiết bị hiện đại, cơ giới hóa, hoặc tự động hóa.

Để tìm hiểu rõ hơn xin xem mục Thuốc bảo vệ thực vật

Sản phẩm cao su

Cho đến nay, Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam có 3 cơ sở sản xuất cao su chính. Đó là:

1. Công ty Cao su Sao Vàng

2. Công ty Công nghiệp Cao su miền Nam

3. Công ty Cao su Đà Nẵng.

Sản phẩm trước đây của các cơ sở này chủ yếu là săm lốp xe đạp, săm lốp ôtô (một phần là lốp ôtô đắp), ống dẫn nước phục vụ thủy lợi...

Sau hơn bốn mươi năm phát triển, ngành cao su của Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc trên nhiều mặt. Về sản lượng, Tổng Công ty tập trung chủ yếu vào săm lốp ôtô, xe đạp và xe máy các loại với sản lượng ngày càng lớn, chất lượng ngày càng cao. Đến nay nhiều sản phẩm săm lốp ôtô, xe máy đã có chất lượng tương đương với khu vực hoặc đạt được tiêu chuẩn của các nước tiên tiến.

Các sản phẩm cao su công nghiệp, lốp ôtô bố hướng tâm (radial) cũng đang được các công ty trong ngành đầu tư phát triển.

Để tìm hiểu rõ hơn xin xem mục Sản phẩm cao su

Hóa chất cơ bản

Các hóa chất cơ bản giữ một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nhất là đối với các ngành công nghiệp, nông nghiệp và y tế. Vì vậy, các cơ sở sản xuất hoá chất cơ bản đã được chú ý đưa vào hoạt động rất sớm.

Nhà máy Hóa chất Việt Trì ( nay là Công ty Hoá chất Việt Trì) đã được Nhà nước quan tâm đầu tư sớm (ngay từ những năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất). Công ty Hóa chất Việt Trì đã cung cấp các sản phẩm chính là xút, clo lỏng và axit clohyđric.

Công ty Hoá chất cơ bản miền Nam đã sớm nắm bắt được nhu cầu về xút, clo của khu vực phía Nam nên đã có hướng đầu tư chiều sâu, sử dụng công nghệ hiện đại (điện phân dùng membran chọn lọc) nên đã đạt được hiệu quả cao trong sản xuất.

Ngoài một lượng lớn axit sunfuric được dùng để sản xuất phân lân, Công ty Supephotphat và Hoá chất Lâm Thao, Nhà máy Supephôtphat Long Thành (Công ty Hoá chất cơ bản miền Nam) còn cung cấp axit này làm nguyên liệu cho nhiều lĩnh vực sản xuất khác (chẳng hạn acquy, các loại phèn)...

Năm 1996, Công ty Hóa chất Đức Giang đã đầu tư xưởng sản xuất axit photphoric với công suất ban đầu là 2.500 tấn/năm. Từ đó với các thiết bị tự chế tạo trong nước, Công ty đã đưa sản lượng lên 10.000 tấn/năm. Một phần sản phẩm đã được xuất khẩu.

Công ty Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc, ngoài sản phẩm urê, còn có amoniac, cacbonic lỏng và rắn là nhữnh hóa chất cơ bản quan trọng cho nhiều lĩnh vực sản xuất, trong đó có công nghiệp lạnh, thực phẩm...

Trong những năm cuối thế kỷ XX, Công ty Apatit Việt Nam đã đầu tư một xưởng sản xuất phôtpho vàng theo phương pháp điện nhiệt với nguyên liệu là quặng apatit và than cốc. Sản phẩm phôtpho đã bước đầu góp phần vào việc đa dạng hoá các sản phẩm đi từ nguyên liệu apatit Lào Cai.

Một mảng rất quan trọng của ngành hàng hoá chất cơ bản là các sản phẩm đi từ quặng bôxit. Trên cơ sở các thiết bị của nhà máy Cophata Tân bình tiếp thu sau ngày giải phóng, chúng ta đã giữ vững và nâng cao công suất sản xuất các loại phèn nhôm và alumin, nâng công suất sản xuất axit sunfuric và sử dụng quặng bôxit Bảo Lộc để chủ động hoàn toàn trong sản xuất.

Ngoài các sản phẩm hoá chất cơ bản kể trên, ngành sản xuất các sản phẩm hoá chất của Tổng Công ty đã sản xuất nhiều mặt hàng khác đáp ứng nhu cầu thị trường như bột nhẹ, than hoạt tính, canxi clorua, các hoá chất tinh khiết, v.v...

Để hiểu rõ thêm xin xem mục a chất cơ bản


LỄ RA MẮT VÀ TỔ CHỨC BAN ĐẦU CỦA TỔNG CÔNG TY HÓA CHẤT VIỆT NAM

LỄ RA MẮT

Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam (tên giao dịch quốc tế là: Vietnam National Chemical Corporation, viết tắt là VINACHEM) là một tập đoàn kinh doanh, thành lập theo quyết định số 835/TTg, ngày 20/12/1995 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở hợp nhất Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất cơ bản, Tổng Công ty Hóa chất Công nghiệp và Hóa chất tiêu dùng và một số đơn vị sự nghiệp khác, có trụ sở tại 1A, Tràng Tiền, Hà Nội.

Ngày 30/1/1996, Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam đã làm lễ ra mắt tại Hà Nội

Tại buổi lễ ra mắt đã công bố quyết định về tổ chức nhân sự và nêu rõ chức năng nhiệm vụ của Tổng Công ty.

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm ông Lê Đình Quy giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam; ông Nguyễn Xuân Thúy giữ chức Tổng Giám đốc.

Tổng Công ty có nhiệm vụ kinh doanh theo định hướng, quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành hóa chất của Nhà nước, bao gồm: khai thác, sản xuất kinh doanh (kể cả xuất và nhập khẩu) các loại nguyên liệu và sản phẩm hóa chất; khảo sát, thiết kế và xây lắp các công trình phục vụ ngành công nghiệp hóa chất; chuyển giao công nghệ; liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, tiến hành các hoạt động sản xuất, thương mại và dịch vụ khác để phát triển ngành. Ngoài ra, Tổng Công ty còn có nhiệm vụ tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kế hoạch - công nghệ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công nhân trong Tổng Công ty. Vì thế, Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam không chỉ bao gồm tất cả các công ty, xí nghiệp vốn nằm trong hai Tổng Công ty trước đây mà còn các đơn vị nghiên cứu và đào tạo như Viện Hóa học Công nghiệp và các trường đào tạo công nhân.

Tại thời điểm công bố Quyết định thành lập, trong thành phần Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam có 42 doanh nghiệp hạch toán độc lập, 2 đơn vị hạch toán phụ thuộc và 6 đơn vị sự nghiệp. Ngoài ra, Tổng Công ty còn tham gia góp vốn ở 14 công ty liên doanh.

 

BAN LÃNH ĐẠO (BAN ĐẦU) CỦA TỔNG CÔNG TY HÓA CHẤT VIỆT NAM

Hội đồng quản trị

Ông Lê Đình Quy - Chủ tịch

Ông Nguyễn Xuân Thúy - ủy viên

Ông Hoàng Sỹ Hiền - uỷ viên (trưởng ban kiểm soát)

Ông Đinh Văn Nghi - uỷ viên

Ông Trần Văn Tứ - uỷ viên

Ban Giám đốc

Ông Nguyễn Xuân Thúy - Tổng Giám đốc

Ông Lương Văn Cầu - Phó Tổng Giám đốc

Ông Trần Tiến Di - Phó Tổng Giám đốc

Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt - Phó Tổng Giám đốc

CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC TỔNG CÔNG TY HÓA CHẤT VIỆT NAM

Các doanh nghiệp Nhà nước hạch toán độc lập

01. Công ty Apatit Việt Nam

02. Công ty Pyrit

03. Công ty Mỏ

04. Công ty Secpentin và Hóa chất Thanh Hóa

05. Công ty Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao

06. Công ty Phân lân nung chảy Văn Điển

07. Công ty Phân lân Ninh Bình

08. Công ty Phân bón miền Nam

09. Công ty Phân bón và Hóa chất Cần Thơ

10. Công ty Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc

11. Công ty Hoá chất và Phân bón Hải Hưng

12. Công ty Hoá chất Việt Trì

13. Công ty Hoá chất Vĩnh Thịnh

14. Công ty Hóa chất Đức Giang

15. Công ty Hóa chất Vinh

16. Công ty Hóa chất cơ bản miền Nam

17. Công ty Thuốc sát trùng Việt Nam

18. Công ty Công nghiệp Hóa chất Đà Nẵng

19. Công ty Công nghiệp Hóa chất Quảng Ngãi

20. Công ty Công nghiệp Hóa chất và Vi sinh

21. Công ty Công nghiệp Cao su miền Nam

22. Công ty Cao su Sao Vàng

23. Công ty Cao su Đà Nẵng

24. Xí nghiệp Liên hợp Pin Hà Nội

25. Công ty Pin - Ăcqui miền Nam

26. Công ty Ăcqui Vĩnh Phú

27. Công ty Ăcqui Tia Sáng

28. Công ty Xà phòng Hà Nội

29. Công ty Bột giặt LIX

30. Công ty Bột giặt NET

31. Công ty Phương Đông

32. Công ty Sơn - Chất dẻo

33. Công ty Sơn Tổng hợp Hà Nội

34. Công ty Que hàn điện Việt - Đức

35. Công ty Khí Công nghiệp

36. Công ty Hơi kỹ nghệ - Que hàn

37. Công ty Đất đèn và Hóa chất Tràng Kênh

38. Công ty Vật tư Xuất nhập khẩu hóa chất

39. Công ty Thiết kế công nghiệp hóa chất

40. Công ty Xây lắp hóa chất

41. Công ty Xây dựng công nghiệp miền Nam

42. Công ty Tài chính hóa chất

Các doanh nghiệp Nhà nước hạch toán phụ thuộc

01. Công ty Phát triển Phụ gia và Sản phẩm dầu mỏ

02. Xí nghiệp Dịch vụ vật tư và Thương mại hóa chất

Các đơn vị sự nghiệp

01. Viện Hóa học công nghiệp

02. Trung tâm Thông tin Khoa học Kỹ thuật Hóa chất

03. Trường Công nhân kỹ thuật hóa chất

04. Trường Công nhân cơ khí hóa chất

05. Nhà Điều dưỡng hóa chất Đồ Sơn

06. Nhà Điều dưỡng hóa chất Vũng Tầu

Các đơn vị liên doanh có vốn góp của Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam

01. Công ty VIPLACO

02. Công ty KOSVIDA

03. Công ty MOSFLY

04. Công ty VIGUATO

05. Công ty LEVER - HASO

06. Công ty LEVER - VISO

07. Công ty PROCTER & GAMBLE (Việt Nam)

08. Công ty liên doanh Trà Bắc

09. Công ty liên doanh Sơn Việt Nam

10. Xí nghiệp liên doanh Xi măng Bình Điền

11. Xí nghiệp liên doanh Xi măng Lao Cai

12. Liên doanh BIOPHARMTECH

13. Liên doanh Thuốc trừ sâu VIPESCO - Cần Thơ.

14. Liên doanh Thiếc Quảng Ngãi - Lâm Đồng