CÁC THỜI KỲ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA CHẤT VIỆT NAM
Công nghiệp hoá chất nước ta đã phôi thai từ trong
cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp.
Trải qua trên năm mươi năm phát triển, Công nghiệp hoá chất đã
có quy mô lớn, bao gồm nhiều phân ngành, thành phần kinh tế, trình độ công nghệ đã có bước thay đổi cơ bản với một đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ và công nhân kỹ thuật đông đảo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Công nghiệp
hoá chất đã được hình thành từ nhu cầu của cuộc kháng chiến, với ba mục tiêu
quan trọng: phục vụ quốc phòng, nông nghiệp và dân sinh. Trong thời kỳ này chúng
ta đã sản xuất được thuốc nổ, ngòi nổ, than cốc dùng trong công nghiệp. Để phục vụ
nông nghiệp, các xưởng phốt phát nghiền được xây dựng ở nhiều nơi. Ngoài ra
chúng ta còn sản xuất được một số mặt hàng tiêu dùng thiết yếu như xà phòng,
diêm, bát đĩa, đồ da thuộc. Để phục vụ yêu cầu in ấn, chúng ta còn sản xuất được cả giấy, mực in và tiến hành in tài liệu .
Hòa bình lập lại, ngành công nghiệp nói chung và
Công nghiệp Hoá chất nói riêng chỉ bao gồm một số ít ỏi các cơ sở rất lạc hậu
như Nhà máy xi măng Hải Phòng (phải ngừng sản xuất), một vài xí nghiệp tư nhân
và 6 xí nghiệp hoá chất quốc doanh , đó là các xưởng phốt phát nghiền thủ công.
Ngay từ những năm 1950 -1960, một số cơ sở nghiên cứu và sản xuất thuộc ngành hoá chất được khôi phục lại hoặc thành lập mới và đã bắt đầu hoạt động có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế ở miền Bắc.
Trong khi các sản phẩm hoá chất tiêu dùng như xà
phòng, thuốc đánh răng v.v...chủ yếu vẫn do công nghiệp địa phương sản xuất thì
trước nhu cầu cấp thiết về phân bón cho nông nghiệp, ngay từ những ngày đầu tiên
sau hoà bình lập lại, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định lấy Công nghiệp hoá chất
làm động lực quan trọng để khôi phục và phát triển nông nghiệp. Trong thời kỳ
này Mỏ Apatit Lào Cai đã được khôi phục sản xuất và ngay từ năm 1955, những tấn
quặng apatit khai thác đầu tiên đã được cung cấp cho nhu cầu làm phân bón.
Trong giai đoạn cải tạo và phát triển công nghiệp
(1958 -1960), chúng ta cũng hướng Công nghiệp hóa chất vào phục vụ sản
xuất trong nước, đặc biệt phát triển nông nghiệp. Năm 1959 chúng ta đã khởi công xâu dựng Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao - con chim đầu đàn của ngành hoá chất thời kỳ đó - Tháng 4 năm 1962, Nhà máy đã chính thức đi vào hoạt động và xuất xưởng những tấn phân lân supe đầu tiên phục vụ nông nghiệp.
Phương hướng phát triển của Công nghiệp hoá chất
(bao gồm cả sản xuất vật liệu xây dựng) trong thời kỳ này là:
- Sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ nông
nghiệp.
- Phát triển mạnh vật liệu xây dựng đáp ứng nhu cầu
xây dựng.
- Đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm phục vụ các ngành
kinh tế khác (acqui, hơi kỹ nghệ, gạch chịu lửa v.v...)
- Đáp ứng nhu cầu dân sinh.
Trong giai đoạn này, Công nghiệp hoá chất là một
trong những ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao nhất.
Về phân bón, từ sản lượng 6.000 tấn phốt phát năm
1955, thì năm 1960 đã đạt 541,4 nghìn tấn, trong đó apatit là 490 nghìn tấn và
phốt phát nghiền là 49,7 nghìn tấn ( tăng hơn 90 lần).
Về xi măng, từ 8,4 nghìn tấn năm 1955, sản lượng
năm 1960 đã đạt 407,9 nghìn tấn (tăng gần 50 lần).
Đặc biệt, trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất đã
bắt đầu đưa ra thị trường hai mặt hàng tiêu dùng mới, đó là săm lốp xe đạp và đồ
dùng bằng nhựa.
Nhìn chung, trong toàn bộ thời kỳ khôi phục, cải
tạo và phát triển kinh tế kéo dài 6 năm, Công nghiệp hoá chất đã tiến một bước
dài theo hướng phục vụ nông nghiệp, xây dựng cơ bản và tiêu dùng.
Trong bước đầu của nền công nghiệp Việt Nam, Công nghiệp hóa chất tại các địa phương có một vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu về mặt hàng tiêu dùng của nhân dân (xà phòng, thuốc đánh răng, sơn)... Thậm chí 45 tấn thuốc trừ sâu đầu tiên sản xuất tại Việt Nam vào năm 1960 cũng là của công nghiệp hoá chất địa phương.

Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Nhà máy
Supe phốt phát Lâm Thao
(19/8/1962)
Thời kỳ kế hoạch 5 năm lần
thứ nhất (1961 - 1965)
Đây là thời kỳ mà những kết quả đạt được của Công
nghiệp hoá chất tuy chưa lớn, nhưng đối với một đất nước vừa thoát khỏi những năm dài chiến tranh, một đất nước nghèo nàn và lạc hậu, thì những thành tựu đạt được thật là to lớn và đáng tự hào.
Nhưng kế hoạch sản xuất chỉ được thực hiện không đầy 4 năm trong hoà bình. Sau đó chúng ta lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh
phá hoại của không quân Mỹ. Mặc dù phần lớn các cơ sở công nghiệp ở miền Bắc nước ta đều bị đánh phá, toàn bộ nền kinh tế phải chuyển hướng cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh, nhưng các thành quả thu được cũng rất đáng kể, Công nghiệp hoá chất và vật liệu xây dựng vẫn có tốc độ tăng trưởng cao. Riêng Công
nghiệp hoá chất tăng gấp 4,62 lần, hơn cả điện lực và cơ khí. Trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất chiếm 9,5% giá trị tổng sản lượng toàn ngành công nghiệp.
Trong kỳ kế hoạch 1961 - 1965, hàng loạt nhà máy lớn của Công nghiệp hóa chất như Supe phốt phát Lâm Thao, Hoá chất Việt Trì, Acquy Hải Phòng, Pin Văn Điển, Phân lân nung chảy
Văn Điển v.v... đã được xây dựng và nhanh chóng đi vào sản xuất.
Nhờ có 2 nhà máy phân bón, kể từ năm 1961, lần đầu tiên nước ta đã sản xuất được phân lân chế biến. Sản lượng phân hoá học trong năm 1964 , năm cao nhất của thời kỳ kế hoạch, là 205,26 nghìn tấn, trong đó supe phốt phát là 135,88 nghìn tấn.
Sản lượng apatit nguyên khai cũng tăng nhanh chóng lên đến mức cao nhất vào năm 1964, đạt 864 ngàn tấn, trong đó 7.400 tấn được nghiền làm phân bón.
Trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất cũng bắt đầu sản xuất nhiều thuốc trừ sâu.
Ngành hóa chất cơ bản cũng bắt đầu hình thành với
các sản phẩm như axit sunfuric, axit clohyđric, xút lỏng, clo lỏng.
Ngành năng lượng điện hóa đã bắt đầu cung cấp pin
và acqui cho quốc phòng, đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh tế và tiêu dùng.
Ngành công nghiệp cao su cũng bắt đầu sản xuất được lốp ôtô với sản lượng ban đầu là 22,5 nghìn bộ (năm 1964) và sau đó, đưa lên 29 nghìn bộ (năm 1965) chưa kể một số lượng lớn lốp đắp, phục vụ kịp thời cho chiến đấu và sản xuất.
Các mặt hàng tiêu dùng cũng tăng nhanh sản lượng.
Trong lĩnh vực vật liệu xây dựng, sản lượng xi măng tăng đáng kể.
Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, mặc dù chịu nhiều tổn thất trong chiến tranh phá hoại của Mỹ, nhưng Công nghiệp hóa chất và vật liệu xây dựng vẫn tiếp tục phát triển, chiếm vị trí quan trọng trong công nghiệp. Cơ cấu ngành cũng có nhiều thay đổi. Lĩnh vực sản xuất tăng nhanh.
Chúng ta đã có Công nghiệp hoá chất vô cơ cơ bản và năng lượng hoá học.
Đã hình thành ba khu công nghiệp hoá chất tập trung ở các khu vực : Hà Nội, Vĩnh Phú (Việt Trì - Lâm Thao) và Hải Phòng.
Thời kỳ chống chiến tranh
phá hoại bằng không quân của Mỹ (1965 - 1975)
Trong thời kỳ này miền Bắc nước ta phải trải qua hai lần bị đánh phá nặng nề. Đây cũng là thời kỳ ngành hoá chất có một bước biến chuyển mới : Ngày 19 tháng 8 năm 1969, Nhà nước đã quyết định thành lập Tổng cục Hóa chất trực thuộc Chính phủ, đồng thời đây cũng là thời kỳ (trong vòng 10 năm)
mà các cơ sở Công nghiệp hoá chất của miền Bắc phải vừa chiến đấu vừa sản xuất. Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do hai cuộc chiến tranh phá hoại gây ra, nhưng nhìn chung Công nghiệp hoá chất vẫn bảo đảm được tốc độ tăng trưởng trương đối cao. Giá trị tổng sản lượng năm 1975 tăng gấp 1,65 lần so với năm 1965.
Sản phẩm quan trọng nhất trong thời kỳ này là phân lân. Các sản phẩm trọng yếu khác của ngành đều phục hồi nhanh và vượt xa mức trước chiến tranh.
Trong 20 năm xây dựng và phát triển, từ hòa bình lập lại đến năm 1975, Công nghiệp hoá chất đã có bước phát triển rất to lớn. Về cơ cấu ngành, đã hình thành nhiều thành phần kinh tế - kỹ thuật thiết yếu trong nền kinh tế quốc dân:
- Công nghiệp sản xuất phân bón, thuốc trừ dịch hại và các hoá chất phục vụ nông nghiệp khác.
- Công nghiệp mỏ phục vụ ngành hoá chất
- Công nghiệp cao su.
- Công nghiệp hoá chất cơ bản
- Công nghiệp pin - acquy
- Công nghiệp xà phòng
- v.v...
Trong Công nghiệp hoá chất còn có các phân ngành như :
silicat (chủ yếu sản xuất vật liệu xây dựng, xi măng), vật liệu chịu lửa, các mặt hàng gốm sứ, thuỷ tinh dùng trong công nghiệp và dân dụng,v.v...Trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất tại các doanh nghiệp nhà nước là trụ cột của ngành. Có thể nói Công nghiệp hoá chất là một trong những ngành đã thể hiện rõ rệt tính chủ đạo của công nghiệp quốc doanh. Các doanh nghiệp nhà nước đã bảo đảm được gần 70% giá trị tổng sản lượng toàn ngành.
Các hóa chất cơ bản như xút, clo (cho công nghiệp giấy, công nghiệp thực phẩm và xử lý nước), axit sunfuric ( cho công nghiệp acquy,sản xuất phèn) v.v... cũng hoàn
toàn do các cơ sở quốc doanh đảm nhiệm. Tất cả các hoá chất và sản phẩm liên quan đến hoá chất cần thiết cho quốc phòng đều do Tổng cục Hóa chất sản xuất theo kế hoạch đặc biệt nhằm đáp ứng các yêu cầu cụ thể.
Ngoài sản xuất, khu vực nghiên cứu thiết kế cũng được hình thành. Trong ngành có hai cơ quan khoa học là Viện Hoá học Công nghiệp (thành lập năm 1955) Và Viện Thiết kế Hoá chất (thành lập năm 1967).
Ngành có một trường đào tạo kỹ thuật viên, hai trường đào tạo công nhân kỹ thuật và một trường quản lý kinh tế.
Thời kỳ kế hoạch 5 năm
(1976 - 1980)
Đất nước thống nhất và giải phóng miền Nam, chúng tiếp quản được hàng loạt xí nghiệp công nghiệp, trong đó có các xí nghiệp hóa chất, mà phần lớn là loại nhỏ.
Công nghiệp hoá chất thuộc loại có tỷ trọng đầu tư cao nhất của ngành công nghiệp miền Nam và tập trung chủ yếu vào các sản phẩm tiêu dùng. Các sản phẩm như săm lốp xe đạp và xe máy, pin - ăcquy, sơn, xà phòng, thuốc đánh răng, chất tẩy rửa và nhất là hàng nhựa là các sản phẩm có sản lượng lớn và khá phong phú về chủng loại, nhưng lĩnh vực phân bón chỉ có phân trộn và photphorit nghiền với sản lượng thấp.
Trong thời kỳ này, một mặt, sau khi cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam, chúng ta đã sáp nhập nhiều công ty nhỏ và thành lập nhiều công ty thuộc những phân ngành kinh tế kỹ thuật khác nhau, có quy mô lớn hơn. Tại miền Bắc nhiều nhà máy hoá chất cũng được cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng mới.
Đặc biệt, trong thời kỳ này để thực hiện mục tiêu 1,3 triệu tấn phân hóa học đề ra cho kế hoạch 5 năm, chúng ta đã nhanh chóng xây dựng nhiều cơ sở nghiền apatit để dùng trực tiếp làm phân bón. Kết quả là từ năm 1976 đến 1980 số xí nghiệp của Tổng cục Hóa chất đã tăng liên tục từ 71 lên 111, tăng gần 1,6 lần.
Tuy nhiên, do tình hình thế giới và khu vực rất phức tạp, việc Mỹ và một số nước phương tây thi hành chính sách cấm vận đối với nước ta, mà từ năm 1978 sản lượng toàn ngành công nghiệp giảm sút nhanh.
Công nghiệp hóa chất nằm trong bối cảnh chung của đất nước, cộng thêm sự giảm sút về nguyên liệu nhập khẩu, nên chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, trong năm 1980 chỉ số phát triển của Công nghiệp hoá chất trung ương đã giảm, chỉ còn bằng 94% so với năm 1976.
Thời kỳ kế hoạch 5 năm
(1981 - 1985)
Công nghiệp hóa chất là một trong số những ngành có tốc độ tăng trưởng cao trong kỳ kế hoạch này. Giá trị tổng sản lượng năm 1985 gấp 1,8 lần năm 1980. Công nghiệp hóa chất cũng là một trong những ngành chiếm tỷ trọng cao nhất trong ngành công nghiệp, tới 10,6% vào năm 1985.
Trong kỳ kế hoạch này, nhờ Nhà máy Phân lân Ninh Bình đi vào sản xuất và Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao tiếp tục mở rộng, đưa công suất lên 300 nghìn tấn/năm, nên sản lượng phân lân chế biến năm 1985 đã tăng gấp 1,5 lần so với năm 1980. Sản lượng thuốc trừ sâu cũng tăng gấp 2,2 lần.
Các sản phẩm chủ yếu khác như các hóa chất vô cơ cơ bản và nhất là các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu của ngành như săm lốp xe đạp, pin, chất tẩy rửa v.v... đều tăng sản lượng và số mặt hàng. Tuy nhiên, các sản phẩm phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu đều bị giảm. Điển hình là săm lốp ôtô, thuốc đánh răng và xà phòng thơm.
Thời kỳ kế hoạch 5 năm
(1986 - 1990)
Trong kỳ kế hoạch này, nhờ có những đổi mới trong chính sách và cơ chế của Nhà nước, nên nhìn chung, sản xuất công nghiệp khá phát triển. Công nghiệp hóa chất thuộc những ngành có tốc độ tăng trưởng cao. Bình quân trong 3 năm đầu, tốc độ tăng trưởng đạt khoảng 6% mỗi năm.
Tuy nhiên, vì là một ngành sản xuất phụ thuộc nhiều nguyên liệu nhập khẩu nên Công nghiệp hóa chất chịu tác động mạnh của cơ chế hai giá và các chính sách khác từ khi chuyển sang cơ chế thị trường. Sản lượng của nhiều ngành sản xuất trong Công nghiệp hóa chất bị giảm sút.
Trong kỳ kế hoạch này, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh của ngành, chủ yếu đầu tư sản xuất các mặt hàng tiêu dùng như xà phòng, thuốc đánh răng, săm lốp xe đạp... vẫn phát triển khá.
Trong giai đoạn này khu vực quốc doanh, chủ yếu là các doanh nghiệp thuộc Tổng cục Hóa chất, đã nhanh chóng vượt qua nhiều thử thách và vẫn giữ được vai trò chỉ đạo trong việc phát triển của Công nghiệp hóa chất nước ta.
Thời kỳ kế hoạch 5 năm
(1991 - 1995)
Có thể nói kế hoạch 5 năm 1991 - 1995 là kế hoạch đầu tiên thực hiện theo cơ chế kế hoạch hóa có tính định hướng, giao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, ngoại trừ một số sản phẩm đặc biệt trong ngành sản xuất phân bón là được giao theo chỉ tiêu pháp lệnh.
Bước vào kỳ kế hoạch này về tổ chức cũng có một số thay đổi: Bộ Công nghiệp nặng được thành lập lại; Tổng cục Hóa chất chấm dứt sự tồn tại và trên cơ sở cơ chế quản lý mới, Nhà nước đã thành lập 2 Tổng Công ty quản lý các doanh nghiệp thuộc Tổng cục Hóa chất trước đây: Tổng Công ty Phân
bón và Hóa chất Cơ bản ; Tổng Công ty Hóa chất Công nghiệp và Hóa chất Tiêu dùng.
Trong thời kỳ này, Công nghiệp hóa chất đạt tốc độ tăng trưởng rất cao, bình quân đạt mức gần 20% trong suốt thời kỳ kế hoạch, cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân toàn ngành công nghiệp.