Hoá học đã trở thành một ngành độc lập như thế nào?

12:00' AM - Thứ sáu, 19/03/2004

Đa số các nhà hoá học đều biết về sự tiến bộ rõ nét của ngành hoá học trong thế kỷ 19, nhất là ở châu Âu. Ví dụ nhà hoá học Anh John Dalton đã đưa ra lý thuyết nguyên tử vào năm 1803, nhà hoá học Đức Friedrich Woehler tổng hợp chất hữu cơ đầu tiên năm 1828, còn nhà hoá học Nga Menleyev công  bản tuần hoàn các nguyên tố lần đầu tiên vào năm 1869.

Nhưng có lẽ ít người biết rằng thế kỷ 19 là thế kỷ khai sinh và phát triển của nghề hoá học. Vào thế kỷ này các nhà hóa học tại các nước châu Âu đã tập hợp nhau để thành lập các hội hoá học quốc gia, xuất bản các tạp chí hoá học và triệu tập các hội nghi hoá học quốc gia cũng như quốc tế.

Cuối thế kỷ 18, ở một số nước như Anh, Pháp, Đức, ngành hoá học được thành lập như một môn khoa học: tức là nó được giảng dạy ở các trường đại học, các sách giáo khoa về hoá học được xuất bản. Nhưng hoá học vẫn là môn phụ so với các môn khác như y học, toán học, vật lý.

Môn hoá học được giảng dạy không nhằm mục đích đào tạo các nhà hoá học mà để cung cấp kiến thức hoá học cho các dược sĩ, thợ nhuộm, thợ nấu xà phòng, thợ nấu da, thợ gốm sứ cũng như cho những người làm việc trong ngành luyện kim và các ngành có liên quan đến nông nghiệp.

Đầu thế kỷ 19, các nhà hoá học mới đạt được đia vị của một đoàn thể nghề nghiệp. Hoá học trở thành một khoa học độc lập, không chỉ được giải phóng khỏi y học mà còn được tách khỏi cả những áp dụng công nghiệp vốn có quan hệ truyền thống với hoá học.

Nhưng ở nhiều nước các ông chủ công nghiệp vẫn không quan tâm đến việc tuyển dụng các nhà hoá học vào làm việc nếu có được tuyển dụng thì họ hiếm khi làm công việc nghiên cứu mà chủ yếu làm phân tích để xét nghiệm và kiểm tra công việc.

Việc thành lập các tổ chức trong ngành hoá học và các cải cách trong giáo dục đại học và cao đẳng cũng đóng góp đáng kể cho sự xuất hiện nghề hoá học. Ví dụ Hội hoá học Anh được thành lập năm 1841 là hiệp hội quốc gia đầu tiên dành riêng cho hoá học. Trong các thập niên sau các hội hoá học quốc gia được thành lập ở nhiều nước châu Âu khác: Đức (1867), Nga (1868), Đan Mạch (1879 Thuỵ Điển (1883), Bỉ (1887), Phần Lan (1891), Na uy (1893), Hà Lan (1903), Pháp (1906), BÔ Đào Nha (1911).

Một trong những nhân vật có ảnh hưởng mạnh nhất trong giáo dục hoá học ở châu Âu nửa đầu thê kỷ 19 là nhà hoá học Đức Liebig. ông được coi là người sáng lập phòng thí nghiệm nghiên cứu trong trường đại học. Vào năm 1825 , phòng thí nghiệm của Liebig ở Giessen được thành lập như một điện hoá dược. Các khoá học do ông mở ra càng ngày càng nổi tiếng. Ông khuyến khích các sinh viên giỏi thực hiện các thí nghiệm riêng của mình và công bố các kết quả thu được.

Bất chấp những cuộc tranh chấp giữa các nước châu Âu, nhiều nhà hoá học vẫn đi ra nước ngoài để gặp gỡ các nhà hoá học khác và học hỏi lẫn nhau. Ở một số nước như Italia, Na Uy, Nga, các nhà hoá học có quan hệ với các đồng nghiệp nước ngoài nhiều hơn so với các đồng nghiệp ở chính nước mình.

Hội nghị hoá học quốc tế đầu tiên được tổ chức ở Karlsruhe (Đức). Hội nghị này do nhà hoá học Đức Fnednch Kekule (người đã sớm ra công thức mạch vòng của benzen) triệu tập./.

THẾ NGHĨA

C & EN, 4-99

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,