Sơ lược lịch sử hình thành và quá trình hoạt động của Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam

12:00' AM - Thứ bảy, 12/08/2006

Ngay trong cuộc kháng chiến chống  Pháp, nước ta đã có các công binh xưởng sản xuất hóa chất đáp ứng yêu cầu quốc phòng, sản xuất thuốc đạn phục vụ chiến đấu, đặt nền móng cho việc hình thành ngành Hóa chất sau này.

Ngày 19/8/1969, Tổng cục Hóa chất được thành lập, đánh dấu sự hình thành Công nghiệp Hóa chất và quá quá trình phát triển đã trở thành ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.

Năm 1990, do thay đổi cơ chế quản lý, từ các doanh nghiệp (DN) thuộc Tổng cục Hóa chất đã hình thành Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Cơ bản và Tổng Công ty Hóa chất công nghiệp và Hóa chất tiêu dùng nhằm mục tiêu phát huy quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các DN.

Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảngvà Nhà nước tiếp tục chủ trương thực hiện cải cách toàn diện các doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam (TCT HCVN), hoạt động theo mô hình Tổng Công ty 91, được thành lập theo Quyết định số 835/TTg ngày 20/12/1995 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sáp nhập hai Tổng Công ty nêu trên.

Ngay từ khi thành lập đến nay. Trong hai kỳ kế hoạch 5 năm (1996 - 2000 và 2001 - 2005), tốc độ tăng tưởng bình quân của  TCT đạt khá, khoảng 15%/năm. Các chỉ tiêu chủ yếu so với năm 1995 đều có mức tăng cao như giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) tăng 3,16 lần; doanh thu tăng 3,31 lần; nộp ngân sách tăng 3,36 lần; lợi nhuận phát sinh tăng 1,94 lần. Năng lực sản xuất các sản phẩm chủ yếu của TCT tăng khá, nhiều sản phẩm đã đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và giữ vai trò chủ đạo như phân bón các loại đạt 13,3 triệu tấn, ăcquy đạt 3,887 triệu KWh, 5,2 triệu bộ lốp ôtô, 30 triệu bộ lốp xe máy, 80 triệu lốp xe đạp, v.v... Các sản phẩm như phân bón, săm lốp ôtô và xe máy, chất giặt rửa, ăcquy đã được xuất khẩu với doanh số đạt 137 triệu USD  (2001 - 2005). Nhiều sản phẩm mới được đưa ra thị trường như LAS, tripolyphôtphát, phôtpho vàng, axit photphoric, lốp ôtô du lịch radial bán thép, v.v...

Đánh giá tổng quát về hoạt động cho thấy ngành CNHC đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của đất nước, đóng góp đáng kể vào sự nghiệp công nghiệp hoá và an ninh lương thực quốc gia, chiếm tỷ trọng khoảng 10% giá trị sản lượng của toàn ngành Công nghiệp, năng lực sản xuất, chủng loại sản phẩm phong phú, chất lượng không ngừng được nâng cao, đáp ứng tốt nhu cầu xã hội, đảm bảo hiệu quả kinh doanh, bảo toàn được vốn. Nhiều công nghệ tiên tiến đã được tiếp nhận và khai thác có hiệu quả, trình độ đội ngũ cán bộ quản lý và tay nghề của công nhân ngày càng được nâng cao, bảo đảm công ăn việc làm cho người lao động với thu nhập của người lao động ngày càng tăng và đến nay đạt bình quân khoảng 2,4 triệu đồng/ người/ tháng.

Hoạt động đầu tư góp vốn trong các liên doanh đạt hiệu quả, góp phần hỗ trợ các hoạt động khác. TCT đạt được những thành tích trên là do:

- TCT đã làm tốt vai trò chủ đạo của DNNN trong việc đảm bảo cung cấp, bình ổn giá phân bón và một số tư liệu sản xuất quan trọng như axit, xút, lốp xe tải cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp; tham gia thực hiện tốt mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo cho vùng sâu, vùng xa và các chương trình kinh tế xã hội khác;

- TCT đã từng bước điều chỉnh cơ cấu đầu tư nhằm đảm bảo tính cân đối toàn ngành, ưu tiên đầu tư các công trình trọng điểm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và các dự án khác mà TCT có ưu thế theo hướng công nghệ hiện đại, tự động hóa cao;

- TCT đã thực hiện được vai trò quản lý và điều hành đối với các đơn vị thành viên; củng cố mối quan hệ liên kết, phối hợp xây dựng kế hoạch dài hạn phát triển TCT và phát triển thị trường; điều chỉnh nhịp điệu sản xuất theo quan hệ cung cầu; hỗ trợ vốn cho nghiên cứu KHCN, đào tạo và giúp đỡ những đơn vị gặp khó khăn; kiểm tra, tổ chức lại các DN yếu kém;

- Hoạt động văn hóa, tinh thần, quy chế dân chủ được đảm bảo; Lãnh đạo TCT, các cơ sở trong Tổng Công ty luôn giữ được sự đoàn kết nhất trí cao. Đảngvà chính quyền, đoàn thể luôn là một khối thống nhất, đoàn kết gắn bó cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao; thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Bên cạnh những thành tích đạt được, cũng còn những mặt hạn chế mà TCT đang tiếp tục khắc phục như:

- Cơ cấu ngành chưa đồng đều; quy mô các DN còn nhỏ so với khu vực; trình độ công nghệ mới ở mức trung bình đến trung bình khá; tự động hóa thấp, lao động nhiều;

- Sức cạnh tranh của đa số sản phẩm còn yếu so với sản phẩm nhập ngoại;

- Hiệu quả kinh tế các năm đều tăng nhưng tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh chỉ đạt từ 0,125 đến 0,140;

- Quan hệ giữa TCT với các đơn vị thành viên là quan hệ hành chính, chưa có sự gắn kết chặt chẽ về lợi ích kinh tế nên không huy động được vốn ở các đơn vị thành viên, chưa khuyến khích được các đơn vị tìm mọi biện pháp để tăng lợi nhuận và chủ động trong các quyết định đầu tư xây dựng;

- Chưa có nguồn lực đầu tư mới để đảm bảo tăng trưởng bền vững, nguồn lực hiện có đã khai thác và huy động ở mức cao, đầu tư nhiều năm qua chủ yếu là đầu tư mở rộng và đầu tư chiều sâu nên chưa tạo được sự đột phá trong phát triển.

Những hạn chế nói trên có nhiều nguyên nhân, chủ yếu là do:

- Mô hình tổ chức hiện tại của TCT chưa tập trung được các nguồn lực cần thiết cho đầu tư và phát triển các dự án trọng điểm, năng lực cán bộ còn nhiều hạn chế do chưa va chạm nhiều với cơ chế thị trường nên xử lý các vấn đề phát sinh còn chậm;

- Sự quản lý chồng chéo của các cơ quan quản lý nhà nước đã hạn chế tính năng động, chủ động của các DN trong hoạt động SXKD; Cơ chế chính sách đặc thù cho ngành hoá chất còn thiếu, đặc biệt là những chính sách đối với ngành sản xuất phân bón có đầu tư lớn nhưng lợi nhuận thấp lại trực tiếp phục vụ an ninh lương thực;

- Một số DN chưa thực sự năng động trong kinh doanh, còn tư tưởng trông chờ vào TCT. để khắc phục những hạn chế trên, việc sắp xếp, đổi mới tổ chức quản lý tại TCT là một nhu cầu cấp thiết.

Căn cứ chủ trương của Đảngtại Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết  Trung ương 9 Khoá IX về sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả DNNN, TCT HCVN đã xây dựng Phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới hoạt động TCT trình Thủ tướng  Chính phủ phê duyệt.

Quá trình đổi mới và sắp xếp DN

Ngày 19/02/2003 và ngày 24/8/2005 Thủ tướng  Chính phủ có Quyết định số 183/QĐ-TTg, số 88/2005/QĐ-TTg phê duyệt và điều chỉnh phương án sắp xếp đổi mới DN của TCT, trên cơ sở đó TCT đã tích cực khẩn trương triển khai thực hiện. đến 31/12/ 2005, TCT đã cổ phần hóa 28 công ty, 5 bộ phận doanh nghiệp, chuyển 2 công ty thành công ty TNHH một thành viên và sáp nhập 3 công ty vào công ty thành viên khác, cụ thể:

1. Sáp nhập DN: TCT đã sáp nhập Công ty dịch vụ  Vật tư và thương mại hóa chất vào Công ty Vật tư và xuất nhập khẩu hóa chất; Công ty Pyrit vào Công ty Apatit Việt Nam; Công ty đất đèn và Hóa chất Tràng  Kênh vào Công ty  Hơi kỹ nghệ - Que hàn. Sau khi sáp nhập, các công ty đã hỗ trợ lẫn nhau tiếp tục phát triển.

2. Chuyển DN thành công ty TNHH một thành viên: TCT đã chuyển Công ty Hóa chất Cơ bản miền Nam và Công ty Apatit Việt Nam thành các công ty TNHH một thành viên năm 2003 và 2004. Sau khi chuyển đổi, hoạt động SXKD của 2 công ty trên vẫn phát triển tốt, giữ được tốc độ tăng trưởng.

3. Chuyển DN: TCT đã chuyển Xí nghiệp Phân bón Bình  điền thành Công ty Phân bón Bình điền; chuyển Công ty Cơ khí và Hóa chất Hà Bắc về Tổng Công ty Xây dựng Công nghiệp Việt Nam để các công ty này có thêm điều kiện thuận lợi phát triển.

4. Thực hiện cổ phần hóa  (CPH) DNNN: Hiện tại, TCT đang nắm giữ cổ phần chi phối (>50%) tại 15 công ty cổ phần và không nắm giữ cố phần chi phối (<50%) tại 11 công ty cổ phần.

Các công ty sau khi chuyển đổi tiếp tục hoạt động có hiệu quả. Năm 2005 hầu hết các công ty cổ phần đã hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật đề ra, điển hình như GTSXCN của các Công ty: CP Bột giặt  LIX tăng 26%, CP Bột giặt NET tăng 24,2%, CP ăcquy Tia Sáng tăng 23,5%, v.v... Lợi nhuận cũng tăng đáng kể như: CP Phân lân Ninh Bình tăng 69%, CP Bột giặt LIX tăng 20%, CP Que hàn điện Việt đức tăng 50%, v.v... Các công ty CP đều hoàn thành tốt nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước, thu nhập của người lao động tăng, mức cổ tức đảm bảo theo dự kiến (10 - 12%/ năm).

Công tác CPH của TCT được tiến hành thuận lợi, các DN đã tích cực triển khai thực hiện và hoạt động ngày càng hiệu quả là do:

- TCT đã kiện toàn Ban đổi mới và phát triển DN có đủ năng lực, thẩm quyền để chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị khi thực hiện cổ phần hóa đồng thời quán triệt cho Đảngviên và quần chúng nội dung các văn bản của ĐảngNhà nước về CPH.

- Các cơ chế, chính sách liên quan đến CPH và các văn bản hướng dẫn thi hành có tính khả thi cao nên không có nhiều vướng mắc, tạo điều kiện cho các DN sớm đi vào hoạt động ổn định;

- Người lao động và người quản lý với vai trò là cổ đông đã tích cực phát huy quyền làm chủ, tinh thần trách nhiệm cao, đổi mới trong phong cách làm việc;

- Các công ty đều coi trọng công tác quản lý, điều hành, nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ, giảm chi phí sản xuất, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm;

- TCT đã làm tốt công tác cử người đại diện trực tiếp quản lý phần vốn nhà nước tại các DN khác đồng thời ban hành quy chế quản lý phần vốn góp thông qua người đại diện để nâng cao vai trò, trách nhiệm. Những người đại diện đã làm tốt nhiệm vụ được giao.

Ngoài số ít các công ty TNHH một thành viên do TCT đang quản lý khi các công ty này chưa tiến hành CPH, còn lại phần lớn các công ty cổ phần khác thì TCT chỉ quản lý đến người đại diện. Như vậy, mối quan hệ hiện nay giữa TCT với các công ty con, công ty liên kết, công ty liên doanh chủ yếu về lợi ích kinh tế và chi phối lẫn nhau về vốn, thị trường, tài chính, do đó TCT cũng phải có thay đổi về tổ chức và quản lý để phù hợp với mối quan hệ mới này.

Ngày 24/4/2005, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 88/2005/QĐ-TTg, chỉ đạo TCT HCVN xây dựng đề án chuyển TCT HCVN sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con. Căn cứ vào các văn bản quy định của nhà nước, TCT HCVN đã xây dựng đề án chuyển đổi. đề án nhằm đáp ứng các mục tiêu:

a) Chuyển hình thức liên kết kiểu hành chính giữa TCT với các công ty thành viên theo cơ chế giao vốn sang hình thức liên kết và chi phối lẫn nhau bằng đầu tư góp vốn, thị trường, công nghệ và thương hiệu giữa các công ty có tư cách pháp nhân với nhau;

b) Xác định rõ trách nhiệm, quyền lợi về vốn và lợi ích kinh tế giữa Công ty mẹ với các công ty con và các công ty liên kết; tăng cường năng lực kinh doanh, tính tự chịu trách nhiệm; nâng cao hiệu quả kinh tế của các công ty con và của Công ty mẹ;

c) Tạo cho Công ty mẹ có điều kiện tích tụ, tập trung vốn để đầu tư vào các công ty con, công ty liên kết và các ngành kinh tế khác; nghiên cứu chiến lược thị trường, nghiên cứu áp dụng công nghệ tiên tiến, v.v... trở thành nhân tố chủ yếu thúc đẩy các công ty con, công ty liên kết ngày càng phát triển;

d) Công ty mẹ thực hiện đầu tư tài chính và quản lý phần vốn đầu tư tại các công ty con, công ty liên kết; thực hiện kinh doanh thương mại, dịch vụ; trực tiếp SXKD khi có điều kiện.

Sau khi hoàn chỉnh đề án theo ý kiến góp ý của các Bộ, ngành liên quan, TCT HCVN đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt. Ngày 24/4/2006 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 89/2006/Q đ-TTg phê duyệt đề án chuyển TCT HCVN sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con và Quyết định số 90/2006/Q đ-TTg về việc thành lập Công ty mẹ - TCT HCVN.

Công ty mẹ - TCT HCVN

1. Cơ cấu tổ chức, quản lý Công ty mẹ -TCT HCVN: Công ty mẹ - TCT HCVN hình thành trên cơ sở tổ chức lại Văn phòng của TCT và một số đơn vị hạch toán phụ thuộc, gồm: Văn phòng Tổng Công ty; Công ty Vật tư và Xuất nhập khẩu hóa chất; Công ty Tài chính  (sẽ thành lập); và Trung tâm Thông tin KHKT Hóa chất. Theo Mô hình này, cơ quan quản lý, điều hành hiện nay của TCT HCVN được chuyển thành cơ quan quản lý, điều hành Công ty mẹ. Công ty mẹ - TCT HCVN thực hiện đồng thời hai chức năng là đầu tư tài chính, quản lý vốn đầu tư của Công ty mẹ và kinh doanh thương mại, dịch vụ. Khi có điều kiện sẽ trực tiếp SXKD.

2. Chức năng nhiệm vụ chủ yếu của  Công ty mẹ - TCT HCVN: Công ty mẹ - TCT HCVN là DNNN, có tư cách pháp nhân, con dấu, điều lệ tổ chức và hoạt động; được mở tài khoản tại các ngân hàng và Kho bạc Nhà nước; trực tiếp thực hiện hoạt động SXKD và đầu tư vốn vào các công ty khác; chịu trách nhiệm bảo toàn vốn nhà nước tại Công ty mẹ và vốn đầu tư vào các công ty khác. Công ty mẹ có trách nhiệm kế thừa các quyền và nghĩa vụ pháp lý của  TCT HCVN  theo quy định của pháp luật.

3. Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của  Công ty mẹ - TCT HCVN: đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước; quản lý vốn đầu tư vào các DN khác; kinh doanh xuất nhập khẩu các sản phẩm phân bón, hóa chất, các loại máy móc thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ cho ngành hoá chất và các ngành kinh tế khác; khai thác và chế biến khoáng sản; kinh doanh các dịch vụ nhà nghỉ, văn phòng, du lịch; thực hiện tư vấn, thi công xây dựng các công trình xây dựng công nghiệp, dân dụng; in ấn phẩm và kinh doanh các ngành nghề khác mà pháp luật không cấm.

4. Tổ chức quản lý và điều hành của  Công ty mẹ - TCT HCVN: Tổ chức quản lý và điều hành  Công ty mẹ - TCT HCVN gồm:  Hội đồng Quản trị; Ban Kiểm soát; Tổng giám đốc; Phó Tổng giám đốc; Kế toán trưởng và Bộ máy giúp việc. Chức năng, nhiệm vụ của  Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Ban Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc được quy định cụ thể tại điều lệ tổ chức và hoạt động của TCT do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. 

5. Các công ty con: Các công ty con của  Công ty mẹ - TCT HCVN gồm:

a) Công ty TNHH một thành viên: đã chuyển hai công ty là apatit Việt Nam và Hoá chất cơ bản miền Nam thành hai công ty TNHH một thành viên; trong năm 2006 sẽ chuyển các công ty:  Supephốtphát & Hoá chất  Lâm  Thao; Phân lân nung chảy Văn điển; Hơi  Kỹ nghệ- Que hàn; Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc thành các công ty TNHH một thành viên.

b) Công ty cổ phần có vốn góp chi phối trên 50% vốn điều lệ,  gồm 15 công ty do Công ty mẹ -TCT HCVN nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.

c) Các công ty sẽ thực hiện CPH sau khi hoàn thành di dời địa điểm và công ty mẹ giữ cổ phần chi phối gồm Công ty Phân bón miền Nam và Công ty Phân bón Bình điền. Khi thực hiện di dời xong sẽ tiến hành cổ phần hoá và Công ty mẹ nắm giữ cổ phần chi phối.

6. Công ty liên kết, Công ty liên doanh nước ngoài

a) Công ty liên kết. TCT có 11 công ty liên kết, nắm giữ dưới 40% vốn điều lệ. Bao gồm các công ty cổ phần thuộc các lĩnh vực điện hoá, sơn, que hàn, phụ gia dầu mỏ, phân bón NPK, v.v...

b) Đầu tư góp vốn vào Tổng Công ty cổ phần Bảo Minh. TCT có vốn góp là 11,2 tỷ đồng  (chiếm 2% vốn điều lệ).

c) Công ty  Liên doanh với nước ngoài: TCT có vốn góp tại 3 Công ty liên doanh là Unilever Việt Nam, TPC VINA, TNHH INoue Việt Nam, với số vốn 249, 6 tỷ đồng.

7. Các đơn vị sự nghiệp bao gồm hai đơn vị là Viện Hóa học Công nghiệp và Trường Trung học CNHC. Viện Hóa học Công nghiệp sẽ xây dựng đề án sắp xếp trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong năm 2006.

định hướng và mục tiêu phát triển đến năm 2010

1. Tiếp tục phát triển  TCT theo hướng đa ngành với công nghệ hiện đại tập trung vào những nhóm ngành sản phẩm có lợi thế phục vụ cho các ngành kinh tế kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng, đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm hóa chất.

2. Không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm; đảm bảo nhu cầu phân chứa lân, NPK, một phần phân đạm; phát triển nhanh mạnh hoá chất cơ bản, xúc tiến nhanh cơ sở sản xuất các sản phẩm hóa dầu, hóa dược.

3. Một số mục tiêu chính: Kế hoạch đến năm 2010, GTSXCN của TCT bằng 1,82 lần năm 2005. Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm  (2006 - 2010) tăng trên 16%. Vốn nhà nước do tích lũy từ lợi nhuận sẽ tăng lên đáng kể. Phấn đấu đến năm 2010 so với năm 2005: sản lượng phân bón hóa học tăng 1,5 lần; lốp ôtô tăng gần 1,4 lần; ăcquy tăng 1,34 lần; các loại axít tăng 1,53 lần; quặng apatít các loại tăng 1,7 lần; chất giặt rửa tăng 1,3 lần, v.v... Bên cạnh việc đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm chủ yếu, còn phải đẩy mạnh sản xuất sản phẩm khác như: silicát, tripôlyphôtphát, phốt pho vàng, các loại khí công nghiệp, pin điện, lốp xe máy, bột nhẹ, thuốc kháng sinh và các sản phẩm hóa dầu, v.v...

Ông NGUYỄN QUỐC TUẤN

Chủ tịch Hội đồng quản trị - TCTHCVN

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)