Hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con, bước phát triển mới của Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam

12:00' AM - Thứ bảy, 12/08/2006

Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam(TCT HCVN) được thành lập theo Quyết định 835/QĐ - TTg ngày 20/12/1995 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở Tổng cục Hóa chất trước đây, kế thừa toàn bộ các nhà máy, cán bộ công nhân viên, bao gồm 45 đơn vị thành viên.

Nhìn lại trên 10 năm hoạt động kể từ ngày thành lập, dưới sự lãnh đạo của Đảngvà chỉ đạo điều hành của Chính phủ. Bên cạnh những thuận lợi, trong sự phát triển của mình, Tổng Công ty và các đơn vị thành viên gặp không ít khó khăn, thách thức: Quy mô các doanh nghiệp chỉ ở mức nhỏ hoặc trung bình, công nghệ kỹ thuật còn lạc hậu, tỷ lệ lao động thủ công còn lớn, nguyên nhiên vật liệu đầu vào sản xuất hầu hết phải nhập khẩu, thiếu vốn đầu tư cho các dự án lớn và các sản phẩm của Tổng Công ty luôn luôn chịu áp lực cạnh tranh rất gay gắt và liên tục trong cơ chế thị trường, nhất là trong những năm gần đây khi nền kinh tế nước ta bắt đầu hội nhập sâu vào kinh tế thế giới. Hơn mười năm qua, phát huy những thuận lợi, khắc phục các khó khăn, nắm vững quan điểm đường lối phát triển kinh tế của Đảngvà Nhà nước, với sự đoàn kết nhất trí trong lãnh đạo và giữa lãnh đạo với CBCNV, TCT HCVN đã giữ vững được nhịp độ phát triển liên tục.

Thời kỳ 1995 - 2000. Trong thời kỳ này, Tổng Công ty đã chỉ đạo các đơn vị thành viên tập trung đầu tư chiều sâu, nâng cấp công nghệ, mở rộng sản xuất và phát triển thị trường. Với tổng mức đầu tư cả thời kỳ chỉ là 1200 tỷ đồng nhưng hiệu quả mang lại rất rõ rệt. So với năm 1995, là năm đầu thành lập Tổng Công ty, năm 2000 giá trị SXCN đã tăng 110%, doanh thu tăng 97,4%, nộp ngân sách tăng 44,1%. Sản lượng các sản phẩm chủ yếu của Tổng Công ty là phân bón chứa lân, săm lốp ôtô các loại, ăcquy đã tăng 1,2 lần, 6,4 lần và 81% tương ứng. đây cũng là thời kỳ mà các đơn vị thành viên Tổng Công ty tăng cường đẩy mạnh công tác thị trường, phát triển thương hiệu. Hầu hết các sản phẩm chủ lực của Tổng Công ty đều đã khẳng định vị trí trên thương trường, làm cơ sở cho sự phát triển mạnh của thời kỳ sau.

Thời kỳ 2001 - 2005. đây là thời kỳ Tổng Công ty đạt được nhiều thành tích quan trọng trong đầu tư phát triển sản xuất. Trong lĩnh vực sản xuất phân bón, việc đầu tư chuyển đổi các dây chuyền sản xuất axit sunfuric sang dùng nguyên liệu và công nghệ mới; mở rộng công suất sản xuất supe lân; cải tạo kỹ thuật Nhà máy sản xuất phân đạm tại Công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc; tiếp tục đầu tư cải tiến công nghệ, thiết bị trong các dây chuyền sản xuất tại 2 cơ sở sản xuất phân lân nung chảy; mở rộng và đầu tư mới các cơ sở sản xuất tại 3 công ty cao su; đầu tư mở rộng công suất, phát triển sản phẩm mới là phốt pho vàng và axit phốtphoric trên cơ sở nâng cấp công nghệ và thiết bị tại các cơ sở sản xuất hóa chất cơ bản; ổn định sản xuất dây chuyền sản xuất cũ và xây dựng mới Nhà máy Tuyển Apatit Cam đường tại Công ty TNHH một thành viên Apatit Việt Nam, v.v... đã giúp cho năng lực sản xuất các sản phẩm của Tổng Công ty được nâng cao một bước, chất lượng sản phẩm ổn định, giá sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Trong giai đoạn này, mức đầu tư cả Tổng Công ty là hơn 4300 tỷ đồng, đã góp phần đưa các chỉ tiêu kinh tế đạt được năm 2005 tăng đáng kể so với năm 2000: giá trị SXCN tăng 2,5 lần, doanh thu tăng 1,93 lần, năng suất lao động tăng 62%, nộp ngân sách tăng 1,65 lần, hầu hết các sản phẩm chủ yếu của Tổng Công ty như phân chứa lân, phân urê, săm lốp các loại, xút thương phẩm, axit sunfuric, v.v... đều tăng từ 2 đến 3 con số. đặc biệt trong thời kỳ này, Tổng Công ty có thêm một số sản phẩm mới như lốp ôtô radial bán thép, phốtpho vàng, chất tạo bọt LAS, ăcquy kín khí, sơn cao cấp dùng cho ôtô - xe máy, dây hàn, một số dạng chế phẩm thuốc bảo vệ thực vật thế hệ mới, v.v...

Trong giai đoạn này, để nâng cao năng lực sản xuất và tăng trưởng ngay trong kỳ, Tổng Công ty và các đơn vị thành viên còn tập trung thực hiện đầu tư một số dự án quan trọng như: Dự án DAP công suất 330.000 tấn/năm; Dự án sản xuất đạm từ than công suất 560.000 tấn/năm; các dự án khai thác và cung cấp quặng apatit; Dự án thăm dò, khai thác và chế biến muối mỏ tại Lào; Dự án liên doanh khai thác và chế biến boxit - sản xuất alumin tại Lâm đồng, v.v... đây là những dự án lớn đảm bảo sự tăng trưởng của Tổng Công ty trong những năm tiếp theo.

Phát huy các kết quả SXKD năm 2005, 6 tháng đầu năm 2006, mặc dù gặp không ít khó khăn thách thức nhưng cả Tổng Công ty đã đạt giá trị SXCN 4350 tỷ đồng tăng 10,87%, doanh thu 6900 tỷ đồng  (tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2005). Lợi nhuận đạt 200 tỷ đồng, xuất khẩu đạt 25 triệu USD  (tăng 36% so với cùng kỳ năm 2005).

Bên cạnh việc tổ chức sản xuất kinh doanh, trên cơ sở thực hiện Nghị quyết TW 3, nghị quyết TW 9 khóa IX của Đảngvề sắp xếp, đổi mới và tăng cường hoạt động hiệu quả của các DN nhà nước và Nghị định số 187/2004/Nđ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển các công ty nhà nước thành công ty cổ phần. Tổng Công ty đã tích cực chuyển đổi, sắp xếp các DN theo chỉ đạo của Bộ Công nghiệp. đến nay, Tổng Công ty đã cổ phần hóa 28 công ty, 5 bộ phận công ty, chuyển đổi 2 công ty thành công ty TNHH một thành viên. So với lộ trình được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Tổng Công ty đã thực hiện vượt mức kế hoạch. Sau chuyển đổi, hầu hết các công ty cổ phần đều hoạt động hiệu quả, đạt mức tăng trưởng cao về giá trị SXCN, doanh thu, hoàn thành chỉ tiêu nộp ngân sách. đặc biệt so với trước khi cổ phần, hầu hết các công ty cổ phần đạt giá trị lợi nhuận cao hơn, thu nhập của người lao động ngày càng được cải thiện. Nhiều công ty đã đảm bảo mức chia cổ tức cao, hầu hết trên 10%, đặc biệt có công ty đạt đến 20%.

Nhằm chuyển đổi tổ chức và tăng tính hiệu quả hơn nữa trong hoạt động của các DN nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 89/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án chuyển đổi TCT HCVN sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con và Quyết định số 90/2006/QĐ-TTg về việc thành lập Công ty mẹ - TCT HCVN.

Đây là những quyết định hết sức quan trọng, đảm bảo các hoạt động của Tổng Công ty phát huy được hiệu quả trên cơ sở các liên kết và ràng buộc về kinh tế; tăng tính độc lập của các DN trên cơ sở phân cấp quản lý và Luật Doanh nghiệp đồng thời xác lập vai trò của Công ty mẹ - TCT HCVN đối với các hoạt động và sự phát triển của các công ty thành viên (công ty con) trên cơ sở phần vốn của công ty mẹ đầu tư vào công ty con.

Có thể nói, chuyển đổi sang Công ty mẹ - Công ty con là chuyển đổi một cách căn bản phương thức tổ chức quản lý, dẫn đến thay đổi về bản chất mối quan hệ giữa Tổng Công ty, Công ty mẹ với các công ty thành viên. Hoạt động của Công ty mẹ - TCT HCVN sẽ trên cơ sở "điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty mẹ - TCT HCVN " do Chính phủ phê duyệt và ban hành. để mô hình Công ty mẹ - TCT HCVN hoạt động hiệu quả bộ máy lãnh đạo là các phòng ban chuyên môn giúp việc Công ty mẹ cần thay đổi về tư duy quản lý đối với các Công ty con từ chỗ bằng mệnh lệnh hành chính trực tiếp sang gián tiếp thông qua người đại diện phần vốn của mình. Trước mắt hoạt động của Công ty mẹ - TCT HCVN sẽ tập trung vào một số mục tiêu chủ yếu sau:

1. Tạo điều kiện đẩy mạnh sản xuất kinh doanh tại các công ty con, trên cơ sở quản lý hiệu quả phần vốn nhà nước tại các công ty con. Tiếp tục nghiên cứu đầu tư vốn vào các lĩnh vực hiệu quả tại các doanh nghiệp khác. đảm bảo sự liên kết về vốn trở thành động lực phát triển quan trọng nhất trong hoạt động và phát triển của Công ty mẹ và các công ty con.

2. Tập trung đổi mới công nghệ, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất. Công ty mẹ - TCT HCVN phải trở thành đầu mối phát triển áp dụng các công nghệ mới và hướng tới quản lý thống nhất công nghệ sản xuất và chất lượng sản phẩm của tất cả các công ty con.

3. Xác định thương hiệu, nhất là các thương hiệu nổi tiếng, của các công ty con để tập trung đầu tư, tiếp thị, tăng cường khả năng cạnh tranh trong và ngoài nước.

4. đảm bảo chỉ đạo, định hướng công tác thị trường toàn Tổng Công ty, nhất là đối với các sản phẩm hoặc nguyên liệu cùng loại, trên cơ sở đồng thuận của các đơn vị sản xuất. điều này sẽ làm giảm cạnh tranh nội bộ và góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất chung.

Để triển khai thực hiện Quyết định 89 và 90/2006/QĐ-TTg, TCT HCVN đã có Quyết định số 237/QĐ-HCVN ngày 31/5/2006 về việc ban hành kế hoạch triển khai Quyết định số 90/2006/QĐ-TTg, theo đó kể từ nay đến hết năm 2006, Tổng Công ty phải chỉ đạo cho các đơn vị thành viên tiến hành các thủ tục chuyển đổi:

a. Chuyển đổi tổ chức của Công ty mẹ, bao gồm sắp xếp Văn phòng Tổng Công ty  (biên chế, mô hình các ban chức năng và tổ chức Cơ quan văn phòng).

- Tổ chức quản lý và điều hành Công ty mẹ - TCT HCVN.

- Xây dựng điều lệ Công ty mẹ - TCT HCVN theo các trình tự và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

- Tổ chức lễ ra mắt Công ty mẹ - TCT HCVN.

- Xây dựng Quy chế tài chính của Công ty mẹ - TCT HCVN, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

b. Chuyển đổi các công ty:

- Chuyển từ hạch toán độc lập sang hạch toán phụ thuộc Công ty mẹ đối với Công ty Vật tư XNK Hóa chất và Trung tâm Thông tin KHKT Hóa chất.

- Chuyển đổi các công ty 100% vốn nhà nước sang công ty TNHH một thành viên đối với 04 công ty: Supe phốtphát và Hóa chất Lâm Thao, Phân lân Nung chảy Văn điển, Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc và Hơi Kỹ nghệ - Que hàn.

- Cổ phần hóa Công ty Phân bón miền Nam và Công ty Phân bón Bình điền sau khi hoàn thành công việc di dời.

Trong giai đoạn 2006 - 2010, Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam đã định hướng kế hoạch phát triển với những mục tiêu sau:

- Xây dựng ngành CNHC có cơ cấu tương đối hoàn chỉnh, bao gồm các lĩnh vực chủ yếu như phân bón, cao su kỹ thuật và tiêu dùng, hóa chất cơ bản  (kể cả hữu cơ và vô cơ), hóa dầu, hóa chất tinh khiết, hóa dược, hóa chất tiêu dùng đáp ứng nhu cầu trong nước, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

- Từng bước xây dựng ngành CNHC hiện đại, hình thành các khu công nghiệp tập trung, các tổ hợp sản xuất hóa chất quy mô lớn sử dụng công nghệ tiên tiến, tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

- Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trên 14%/năm trong kỳ kế hoạch, xây dựng TCT HCVN trở thành doanh nghiệp phát triển, hướng tới hình thành Tập đoàn kinh tế, làm tốt vai trò chủ đạo trong các lĩnh vực sản xuất phân bón, cao su kỹ thuật và hóa chất.

Các chỉ tiêu phấn đấu cụ thể của từng năm và cả thời kỳ đã được kế hoạch hóa, theo đó giá trị SXCN 5 năm (2006 -2010) phấn đấu đạt trên 74 nghìn tỷ, với hệ số tăng trưởng trên 16%/năm; doanh thu đạt trên 104 nghìn tỷ với hệ số tăng trưởng trên 16%/năm; xuất khẩu đạt 350 triệu USD; nộp ngân sách và lợi nhuận đạt được đều tăng dần theo từng năm.

Trong công tác đầu tư xây dựng giai đoạn 2006 - 2010, Tổng Công ty phấn đấu thực hiện và hoàn thành một số dự án trọng điểm như: Dự án sản xuất DAP tại Hải Phòng, công suất 330 nghìn tấn/năm sẽ được đưa vào vận hành vào cuối năm 2007; Thực hiện và hoàn thành Dự án sản xuất phân đạm từ than cám tại Ninh Bình, công suất 560 nghìn tấn urê/năm; Thực hiện dự án thăm dò, khai thác và chế biến muối mỏ tại Lào; Dự án liên doanh sản xuất alumin tại Lâm đồng.

Tổng Công ty cũng sẽ chỉ đạo cho các công ty con triển khai thực hiện các dự án quan trọng trong lĩnh vực tăng cường năng lực khai thác, chế biến và cung cấp quặng apatit tại Công ty TNHH một thành viên Apatit Việt Nam; Dự án mở rộng công suất sản xuất urê lên 350 nghìn tấn/năm tại Công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc, và nhiều dự án đầu tư chiều sâu, nâng công suất và chất lượng sản phẩm tại các công ty con khác.

Có thể nói, việc chuyển hoạt động sang mô hình Công ty mẹ - Công ty con là một cái mốc chuyển đổi quan trọng trong sự phát triển đi lên của Tổng Công ty. Dưới sự chỉ đạo của đảng, được hỗ trợ mạnh mẽ từ phía Nhà nước, các cơ quan trung ương và địa phương, chúng ta sẽ có nhiều thuận lợi để phát triển. Tuy nhiên trước mắt chúng ta sẽ không ít khó khăn và thách thức. để TCT HCVN tiếp tục phát triển và vươn tới những tầm cao mới, mỗi cán bộ, nhân viên và người lao động trong Tổng Công ty sẽ đoàn kết, nhất trí, phát duy dân chủ là trí tuệ tập thể, kỷ cương trong lao động, hết lòng vì sự phát triển chung              

Ông ĐÕ DUY PHI

Tổng Giám đốc - TCT HCVN

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)