Cơ chế quản lý tài chính của Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam theo mô hình công ty mẹ - công ty con

12:00' AM - Thứ bảy, 12/08/2006

Trong định hướng chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, Đảngvà Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành TW Đảngkhoá IX đã ra nghị quyết số 05- NQ/TW ngày 24/9/2001 nhằm tiếp tục sắp xếp đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

Hiện nay, Nhà nước đang thí điểm thực hiện việc chuyển đổi một số Tổng Công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con với mục tiêu tạo điều kiện thúc đẩy, nâng cao khả năng hội nhập và cạnh tranh quốc tế. đây là một vấn đề còn mới mẻ ở nước ta, đặc biệt mô hình Công ty mẹ - Công ty con được xây dựng và thí điểm ở các Tổng Công ty. đây là một loại hình doanh nghiệp nhà nước có nhiều mặt mạnh nhưng cũng còn không ít khó khăn, yếu kém trong tổ chức và hoạt động. Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam (TCT HCVN) cũng không nằm ngoài xu thế đó.

TCT HCVN là TCT 91, được thành lập theo Quyết định số 385/TTg ngày 20/12/1995 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sáp nhập Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất cơ bản với TCT Hóa chất Công nghiệp và Hóa chất tiêu dùng. Ngay từ những ngày đầu thành lập, TCT HCVN đã là một TCT nhà nước lớn, gồm tập hợp của trên 60 đơn vị thành viên, trong đó có 44 doanh nghiệp sản xuất, 6 đơn vị nghiên cứu KHCN, hành chính sự nghiệp và 14 đơn vị liên doanh. ở mô hình hoạt động này, cơ chế  quản lý tài chính, trong đó có cơ chế vốn và quản lý vốn của TCT, đã có nhiều mặt tích cực, song cũng bộc lộ những hạn chế nhất định. Tới đây, TCT HCVN chuyển đổi mô hình hoạt động sang hình thức Công ty mẹ - Công ty con, thành lập Công ty mẹ - TCT HCVN, TCT sẽ có Quy chế tài chính mới và cơ chế quản lý tài chính cũng đổi khác so với trước đây khi còn là TCT nhà nước.

Việc chuyển đổi này nhằm chuyển từ liên kết theo kiểu hành chính với cơ chế giao vốn trong một số công ty nhà nước hiện nay sang liên kết bền chặt bằng cơ chế đầu tư tài chính là chủ yếu, tạo điều kiện phát triển năng lực, quy mô và phạm vi kinh doanh của công ty, thúc đẩy việc tích tụ vốn, sử dụng tiềm lực tài chính và các nguồn khác của công ty để đầu tư, góp vốn và tham gia liên kết với các doanh nghiệp khác.

Trên thực tế, cơ chế quản lý tài chính giữa TCT HCVN với các đơn vị thành viên gặp những khó khăn vướng mắc, nhất  là tính độc lập tương đối, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm với hiệu quả đồng vốn cũng như hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Nhiều khoản vốn vay cho các đơn vị sử dụng nhưng lại do TCT HCVN đứng ra vay và bảo lãnh. Trách nhiệm pháp lý của TCT đối với khoản vay và việc quản lý sử dụng nguồn vốn vay này, đặc biệt là vốn vay cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản của các đơn vị thành viên, lại phục thuộc vào điều kiện và khả năng phát huy bảo toàn và phát triển vốn của bản thân đơn vị... Cơ chế quản lý tài chính giữa TCT HCVN và các đơn vị thành viên thực hiện chủ yếu thông qua các hoạt động như:

1- Nhà nước giao vốn cho TCT HCVN, TCT giao vốn cho các đơn vị thành viên.

2- Xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác năm của TCT và các đơn vị thành viên.

3- Trình duyệt phương án sử dụng vốn đầu tư xây dựng sản xuất kinh doanh, bao gồm các nguồn vốn thuộc chủ sở hữu, vốn khấu hao tài sản cố định và các nguồn vốn khác.

4- Phân cấp trong đầu tư xây dựng cơ bản  (trình duyệt dự án và quản lý thực hiện dự án).

5- Trình duyệt kế hoạch và phân cấp xử lý vốn, tài sản mua sắm, nhượng bán, thanh lý tài sản, vật tư....

6- Trích nộp kinh phí hoạt động cho bộ máy quản lý điều hành TCT.

7- Các chế độ báo cáo tài chính, kế toán, kiểm  toán và thanh tra, kiểm soát.

Quan hệ giữa TCT HCVN với các đơn vị thành viên gắn kết trên lĩnh vực tài chính bằng xây dựng kế hoạch, thực hiện kế hoạch tài chính hàng năm và TCT hỗ trợ các đơn vị thông qua việc cho vay và cấp bổ sung vốn, bảo lãnh vốn vay, v.v... vì vậy chưa điều hoà và tập trung được vốn trong TCT trong khi thực tế hoạt động kinh doanh được thực hiện chủ yếu qua các đơn vị thành viên. Bên cạnh đó, quá trình tích tụ và tập trung vốn của các đơn vị thành viên và Tổng Công ty cũng chưa thực sự hiệu quả, đồng thời quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính của các đơn vị thành viên chưa được thực hiện đầy đủ. Tất cả những yếu tố trên đây cho thấy cơ chế quản lý tài chính của TCT HCVN cần phải được thay đổi.

Trong mô hình Công ty mẹ - Công ty con, các công ty con được tự chủ và tự chịu trách nhiệm với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Công ty mẹ với vai trò là người quản lý và đầu tư vốn cho công ty con, định hướng hoạt động cho công ty con. Mối quan hệ giữa Công ty mẹ và các công ty con bảo đảm chặt chẽ, thường xuyên. Quan hệ giữa công ty con trong công ty mẹ là quan hệ hợp đồng, như thế sẽ phát huy được tính tự chủ và tích cực của các công ty con và hợp thành sức mạnh tổng hợp của công ty mẹ. Mô hình tổ chức hoạt động tương lai của Công ty Mẹ - TCT HCVN nhìn từ góc độ tài chính, bao gồm:

1- TCT HCVN đầu tư vốn cho các đơn vị thành viên trực tiếp hoặc thông qua công ty tài chính, với vai trò là Công ty mẹ thực hiện huy động vốn, đầu tư vốn vào các đơn vị thành viên  (công ty con). Như vậy, quyền hạn của TCT HCVN  (Công ty mẹ) đối với các công ty con phụ thuộc vào phần vốn đầu tư, vốn góp vào các đơn vị thành viên.

2- Các công ty con là doanh nghiệp độc lập, có tư cách pháp nhân đầy đủ và chịu sự kiểm soát của Công ty mẹ thông qua việc sở hữu theo điều lệ và Quy chế tài chính.

3- Mối quan hệ giữa Công ty mẹ và các công ty con thực hiện chủ yếu thông qua quyết định của đại hội cổ đông. Quan hệ giữa công ty con và các doanh nghiệp khác thuộc Công ty mẹ chủ yếu cũng thông qua hình thức các hợp đồng kinh tế.

4- Sự phân chia lợi nhuận cổ tức phụ thuộc vào phần vốn góp đầu tư của Công ty mẹ vào công ty con.

5- Các công ty con có quyền thay đổi cơ cấu tài sản của mình để phát triển sản xuất kinh doanh; quyết định các dự án đầu tư theo phân cấp của Công ty mẹ; quyết định sử dụng vốn của công ty để đầu tư vào doanh nghiệp khác.

6- Xây dựng hệ thống báo cáo tài chính và kiểm toán hợp nhất: Với mô hình Công ty mẹ - Công ty con, các phương pháp kiểm soát tài chính và ghi chép kiểm toán cũng được áp dụng một cách phù hợp nhằm phản ánh đúng thực chất tác dụng về mặt tài chính của các giao dịch nội bộ và phản ánh trung thực, khách quan, tổng hợp của Công ty mẹ.

7- Cơ chế kiểm soát tài chính: kiểm soát nội bộ là cần thiết nhưng chưa đủ, cần phải xây dựng hệ thống kiểm soát quản trị để điều hành cả hệ thống kinh doanh một cách có hiệu quả và ngăn chặn các rủi ro hệ thống có thể phát sinh ở bên trong tập đoàn.

8- Hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con là nhằm phân tán rủi ro trong kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn của chủ sở hữu.

Điều khác biệt so với mô hình TCT HCVN trước đây là Công ty mẹ và công ty con đều là công ty kinh doanh, Công ty mẹ thực hiện đồng thời quản lý tài chính các công ty con và trực tiếp kinh doanh tài chính. Các công ty con là công ty cổ phần chi phối hoàn toàn không nộp phí quản lý cho Công ty mẹ; các công việc về kinh doanh  (nếu có) giữa mẹ - con  là đều thông qua các hợp đồng kinh tế bình đẳng giữa các bên. Công ty con có quyền từ chối hoặc thương lượng bình đẳng các hợp đồng với Công ty mẹ.

Cơ chế quản lý và mối quan hệ trong mô hình Công ty mẹ - Công ty con ở TCT HCVN đi vào thực chất hơn sẽ khắc phục được những bất cập trong quản lý theo mô hình trước đây. Công ty mẹ vừa trực tiếp thực hiện sản xuất kinh doanh, vừa hoạt động đầu tư vốn vào các công ty con trên cơ sở các hợp đồng kinh tế, không còn mối quan hệ theo kiểu mệnh lệnh, hành chính gượng ép và trích nộp kinh phí như trước khi chuyển đổi. Các công ty con trong TCT HCVN đều là những pháp nhân đầy đủ, liên kết với Công ty mẹ theo các mức độ khác nhau, thông qua sự chi phối về vốn, thị trường, thương hiệu về phân công và hợp tác của Công ty mẹ với các công ty con, thể hiện tại điều lệ của Công ty mẹ.

Việc nghiên cứu thành lập mô hình Công ty mẹ - Công ty con trong các TCT nhà nước nói chung và TCT HCVN nói riêng là một yêu cầu hết sức cấp bách và cần thiết trong quá trình tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước. Quá trình chuyển đổi đòi hỏi những cải cách có tính đột phá với cơ chế quản lý tài chính cũngnhư sự đổi mới đồng bộ hệ thống tổ chức quản lý của TCT. Trong xu thế toàn cầu hóa với những cơ hội thách thức hiện nay, sự chuyển đổi sang mô hình mới của TCT HCVN góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước theo Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết trung ương 9  (khóa IX). Cùng với tiêu chí đa sở hữu, sẽ tạo điều kiện cho Công ty mẹ - TCT HCVN chủ động lựa chọn các hình thức đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh theo hướng đa ngành, đa nghề. Mối quan hệ mẹ - con thực hiện trên cơ sở điều lệ và Quy chế tài chính.  đây cũng là dịp để TCT HCVN khẳng định bản lĩnh của chính mình trong cơ chế thị trường, tạo sự phát triển bền vững trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.

P.V

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)