Những phát triển mới trong lĩnh vực thuốc bảo vệ thực vật

12:00' AM - Thứ sáu, 01/12/2006

Tại Hội nghị hàng năm của Hội đồng bảo vệ thực vật Anh đầu năm 2006, nhiều công ty tham gia đã công bố những phát hiện và phát triển mới nhất về thuốc bảo vệ thực vật. Những sản phẩm nổi bật đã được công bố, bao gồm:

Aminopyralid

Đây là sản phẩm mới của Công ty Dow Agro Science, một loại thuốc diệt cỏ thuộc nhóm axit pyridin cacboxylic, dùng để kiểm soát các loại cỏ lá rộng  (lưu niên và mọc theo mùa). Aminopyralid không có tác động gây ung thư, dị dạng thai nhi, đột biến gen, nội tiết hoặc các tác động bất lợi khác. Thuốc tỏ ra có độc tính thấp đối với động vật và đã đạt kết quả  tốt theo tiêu chuẩn đánh giá của EU về rủi ro sinh thái đối với rong tảo và thực vật mọc dưới nước. Sau khi hấp thụ thuốc (qua lá và rễ), cỏ sẽ ngừng tăng trưởng vì bị hoại tử nhanh.

Bifenazat

Công ty Crompton Europe mới đưa ra sản phẩm arcaxit bifenazat để sử dụng cho các loại cây cảnh. Bifenazat có tác dụng diệt ve ăn lá cây  (Tetranychus urticae). Nó có hoạt tính trong tất cả các giai đoạn phát triển của ve, nhưng hiệu quả nhất đối với giai đoạn ấu trùng và nhộng. Thuốc không có tác dụng đối với những sinh vật khác. Các thử nghiệm của Công ty Crompton đã cho thấy Bifenazat rất hiệu quả đối với ve ăn lá cây, nhưng không gây ra độc tố thực vật và có độc tố thấp đối với những động vật chân đốt có ích.

Flubendiamit

Flubendiamit là thuốc trừ sâu loại mới để kiểm soát bướm gây hại. Flubendiamit được Công ty Nippon Nohyaku phát hiện và cùng phát triển với Công ty Bayer CropScience. Nó có hoạt tính cao đối với bướm trưởng thành và ấu trùng, tác động nhanh và có hoạt tính dư kéo dài, không tạo ra tính kháng chéo đối với các loại thuốc trừ sâu thông thường. Những nghiên cứu ban đầu về cơ chế hoạt động của Flubendiamit cho thấy nó tác động đến kênh giải phóng canxi trong côn trùng.

Cyflufenamit

Công ty Nippon Soda đã phát triển và đăng ký một loại thuốc diệt nấm mới là Cyflufenamit. Nông dân trồng ngũ cốc có thể sử dụng thuốc này để diệt nấm ký sinh ở lúa mì, lúa mạch trong các vụ đông xuân. Cyflufenamit có hoạt tính bảo vệ và trị bệnh nấm bột. Cyflufenamit đã được đăng ký tại Anh ở dạng nhũ tương trong nước  (EW). Công ty đang tiếp tục nghiên cứu để mở rộng phạm vi áp dụng của thuốc này cho những cây trồng khác.

Fluopicolit

Fluopicolit được Công ty Bayer CropScience phát hiện và phát triển, được sử dụng để kiểm soát nhóm nấm noãn (Oomycete). đây là thuốc diệt nấm thuộc hạng mục hóa chất mới - axylpicolit. Fluopicolit có hiệu quả cao đối với nhiều loại bệnh nấm noãn, ví dụ bệnh tàn rụi ở khoai tây do nấm Phytophthora và bệnh nấm mốc sương ở nho do nấm Plasmopara viticola. Thuốc này cũng được phát triển kết hợp với các thuốc diệt nấm khác để sử dụng cho khoai tây, rau xanh và một số loại cây ăn quả. Các nghiên cứu sinh hóa cho thấy Fluopicolit tác động vào các protein tương tự spectrin mà người ta cho là đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của màng tế bào trong nấm. Fluopicolit không gây tính kháng chéo với các thuốc diệt nấm khác, vì vậy có thể trở thành một công cụ mới và quan trọng để kiểm soát có hiệu quả tính kháng thuốc.

Mandipropamit

Công ty Syngenta cũng phát triển một loại thuốc diệt nấm mới chống các bệnh do nấm noãn  (Oomycete pathogen). Mandipropamit là dẫn xuất đầu tiên của các thuốc diệt nấm loại mandelamit sẽ được bán ra trên thị trường. Mandipropamit có tác dụng diệt các loại nấm như Plasmopara ở nho, Phytophthora infestant ở khoai tây và cà chua, và nấm Pseudoperonospora ở bầu bí. Nó có hoạt tính cao chống mầm bào tử, ngăn cản sự phát triển của hệ sợi trong nấm và sự hình thành bào tử.

Bacillus subtilis

Ngoài những sản phẩm hóa chất, một số công ty cũng phát triển các tác nhân sinh học để kiểm soát dịch hại, ví dụ  Bacillus subtilis.

Bacillus subtilis  (QST 713) là vi khuẩn di động, ưa khí, được Công ty Agra Quest phát hiện. Nó đã được Cục bảo vệ môi trường Mỹ  (EPA) xếp loại và tỏ ra có hiệu quả đáng kể chống nhiều bệnh vi khuẩn và bệnh nấm. QST 713 hoạt động bằng cách chiếm bề mặt lá cây và cạnh tranh với các mầm bệnh để giành không gian và các chất dinh dưỡng, nhờ đó ngăn cản các mầm bệnh bằng con đường vật lý. Nó cũng sản sinh ra các chất chuyển hóa lipopeptit có tác động kết hợp để phá hủy các ống và màng của mầm bệnh.

Quỹ Nghiên cứu Trà USPAI tại Valparai, Ấn Độ, đã khảo sát tiềm năng của vi khuẩn chống các nấm bệnh gây rụi lá trà. Nhiều dòng vi khuẩn Bacillus subtilis đã được xác định là có khả năng chế ngự mầm bào tử của nấm bệnh. Hiện nay các nhà nghiên cứu đang tiến hành các thí nghiệm để nâng cao hiệu quả thực địa của những dòng vi khuẩn chọn lọc                   n

HOÀNG VÂN

Theo Chemistry & Industry 1/2006


Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)