Thị trường phân kali ở châu Á - tình hình sản xuất và nhập khẩu

12:00' AM - Chủ nhật, 17/06/2007

Cùng với đạm và lân, kali là một trong những chất dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây trồng. đối với hai cây trồng quan trọng của châu Á là cọ dầu và lúa thì phân kali là một trong những loại phân bón chính. Nhưng khác với phân đạm là loại phân có thể được sản xuất từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch, hoặc phân lân được sản xuất từ quặng phốtphat phân bố khá rộng trên thế giới, thì rất ít nước có nguồn quặng kali có thể khai thác một cách kinh tế. Trên thế giới chỉ có 15 nước có ngành sản xuất phân kali quy mô lớn, chủ yếu tập trung ở châu Âu, châu Mỹ và Trung đông. Hơn nữa, một số nước có ngành sản xuất phân kali phát triển cũng gặp nhiều khó khăn. Ví dụ Pháp thì đang gần cạn kiệt nguồn nguyên liệu hoặc gặp những trở ngại kỹ thuật đối với tăng sản lượng khai thác, còn các mỏ phân kali tại Canađa đã gặp những vấn đề về ngập lụt.

Thương mại quốc tế đối với phân kali trên thế giới bị chi phối bởi 6 nước sản xuất chính: Canađa, Nga, Bêlarút, Đức, Ixraen, Gioócđani.

Năm 2005, sản lượng phân kali thế giới đạt 54,3 triệu tấn KCl, trong đó Canađa chiếm khoảng một phần ba. Tỉ lệ vận hành công suất tại các nhà máy sản xuất phân kali thường khá cao  (trung bình khoảng 85%), vì nhu cầu đang tiếp tục tăng. Tại châu Á, nhu cầu phân kali tăng nhanh nhưng không đều. Hiện nay châu Á đã trở thành khu vực tiêu thụ phân kali lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 36% nhu cầu cả thế giới. Trong 10 năm qua, tỉ lệ mức tiêu thụ của châu Á trên thị trường phân kali thế giới đã tăng gần gấp đôi.   

Năm 2004, nhu cầu phân kali của châu Á đạt 15,4 triệu tấn KCl. Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc  (FAO) dự báo mức tiêu thụ phân kali trên toàn thế giới sẽ tiếp tục tăng với tốc độ 2,7 triệu tấn/năm, trong đó châu Á chiếm 60% của mức tăng này. Nguyên nhân là vì sản lượng phân kali của châu Á rất nhỏ so với nhu cầu, tuy trong hai thập niên qua Thái Lan và Trung Quốc  (TQ)  đã có nhiều cố gắng để phát triển sản suất phân kali. Hiện tại, châu Á vẫn là khu vực nhập khẩu phân kali lượng lớn, chủ yếu là từ Canađa và các nước thuộc Liên Xô cũ.   

Nhu cầu phân kali của châu Á

Trên thị trường châu Á có thể phân biệt một số khu vực: các nước vùng phía bắc như Nhật Bản, Hàn Quốc và đài Loan là những thị trường phân bón đã phát triển ở mức cao. Nhu cầu phân kali tại những nước này khá cao nếu tính theo đầu người, nhưng dự báo sẽ giữ ở mức tương đối ổn định hoặc giảm nhẹ.

Ấn Độ chi phối thị trường phân kali ở phía nam châu Á, với nhu cầu nhập khẩu khoảng 2,8 triệu tấn/năm. Khác với TQ, thị trường các hợp chất kali của Ấn Độ hầu như chỉ phục vụ cho lĩnh vực phân bón, vì nước này có truyền thống bón phân cân đối. Từ khi bãi bỏ trợ cấp phân đạm trong thập niên 1990, lượng tiêu thụ phân kali tại Ấn Độ đã tăng nhanh hơn so với phân đạm. Dự báo, nhu cầu phân kali tại nước này sẽ tăng với tốc độ 3 - 4%/ năm.

Các nước Đông Nam Á gồm 5 nước tiêu thụ phân kali quan trọng là Việt Nam, Malayxia, Inđônêxia, Thái Lan và Philipin, với tổng nhu cầu đạt 3,6 triệu tấn/năm. Đông Nam Á là khu vực quan trọng đối với những cây trồng cần nhiều phân kali như cọ dầu và lúa. Khu vực này chiếm 25% sản lượng lúa gạo thế giới.

Ngày nay, TQ đang là nước tiêu thụ phân kali lớn nhất châu Á và lớn thứ hai trên thế giới  (sau Mỹ). Phần lớn KCl được sử dụng ở TQ để đáp ứng nhu cầu phân bón đang tăng nhanh sau khi duy trì ở mức tương đối thấp trong một số năm. Trong thập niên 1990, TQ đã gặp phải tình trạng thiếu hụt phân kali một cách nghiêm trọng, dẫn đến sản lượng cây trồng thấp. Nhưng chính phủ TQ đã có chương trình hành động để điều chỉnh tỉ lệ NPK từ 1:0,28:0,09 thành 1:0,40:0,25. đồng thời, nông dân miền nam TQ đã tăng cường chuyển đổi từ sản xuất lúa gạo sang sản xuất cây trồng khác. Do đó, ngày càng có nhiều nông dân tăng cường sử dụng phân kali để tăng chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Khi người nông dân thực hiện phong trào chuyển đổi sang các loại cây trồng hỗn hợp, trong đó bao gồm cả rau và hoa quả, các viện khoa học nông nghiệp TQ đã khuyến cáo áp dụng tỉ lệ NPK là 1:0,60:0,80. Việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới  (WTO) đã mang lại những thay đổi trong chiến lược nông nghiệp của TQ. Sản lượng cây lương thực vẫn được duy trì, nhưng nông nghiệp nước này sẽ dịch chuyển sang các sản phẩm khác có giá trị thặng dư cao. Sự dịch chuyển này chắc chắn sẽ dẫn đến nhu cầu phân kali cao hơn.

Nhưng ngoài nhu cầu phân kali cho nông nghiệp, TQ còn có nhu cầu khá lớn đối với KCl dùng trong công nghiệp. Lượng KCl này thường được sản xuất từ các loại quặng nghèo.

Tình hình sản xuất phân kali tại châu Á

Trung Quốc

Ước tính, các mỏ kali tại TQ có tổng trữ lượng khoảng 147 triệu tấn  (tính theo K2O). Nhưng quặng kali ở đây thường là loại nghèo, với hàm lượng KCl chỉ khoảng 1,5 - 3,2%. địa điểm các mỏ cũng nằm rất xa các vùng tiêu thụ. Do đó, đối với TQ thì nhập khẩu phân kali là phương án kinh tế hơn.

Quặng kali TQ thường không phải là quặng sylvinit, mà là quặng carnalit có chứa magiê, một chất dinh dưỡng cũng quan trọng đối với cây trồng.

Năm 2005, sản xuất phân kali của TQ đã tăng 20%, đạt khoảng 2,5 triệu tấn KCl. Các sản phẩm chính là kali clorua và kali sunfat. Sản lượng KNO3 dùng cho nông nghiệp khá thấp. Sản xuất KCl tập trung chủ yếu ở vùng Charhan, Thanh Hải,  (phía tây TQ) xung quanh một hồ muối lớn. Năm 2005, sản lượng KCl của nhà sản xuất lớn nhất nước này, là Công ty Hồ muối Thanh Hải, đã tăng 40% do một mỏ mới với sản lượng khai thác 1,0 triệu tấn/năm đã được đưa vào vận hành. Tại tỉnh Tây Giang, Công ty Luobupo đã mở rộng công suất phân kali thêm 160 nghìn tấn/năm.

Nhìn chung, dự kiến trong vài năm tới sản lượng phân kali tại TQ sẽ đạt mức 4,0 triệu tấn/năm.

Thái Lan

Hiện tại không có nhà máy sản xuất phân kali, nhưng nhờ những phát hiện về những mỏ đá chứa kali với trữ lượng lớn tại vùng đông bắc, nên về trung hạn Thái Lan có những cơ hội rất tốt để phát triển ngành sản xuất này với quy mô lớn. Tuy nhiên, việc phát triển những mỏ quặng này cũng đã gặp phải nhiều khó khăn. Hai dự án phân kali lớn hiện đang được đề xuất tại Thái Lan là dự án của Công ty Mỏ kali ASEAN  (APMC) tại Bammer Narong với sản lượng dự kiến 1,1 triệu tấn KCl/ năm, và dự án của Công ty Kali châu Á - Thái Bình Dương  (APPC) tại Somboon, gần Udon Thani, với sản lượng dự kiến 1,0 triệu tấn KCl/ năm và sẽ tăng đến 2,0 triệu tấn/năm sau vài năm tới.

Hiện công ty liên doanh Trung Quốc - Thái Lan  (Sino - Thai Potash Co.) đã quan tâm đối với dự án của APMC và APMC vẫn tiếp tục đàm phán với các nhà thầu và sẽ sớm triển khai dự án.

Cạnh tranh với dự án của APMC là dự án của Công ty APPC do Cty TNHH  Tài nguyên châu Á - Thái Bình Dương (APR) -  một công ty của Canađa - lập ra. Công ty APR cho biết, mỏ Somboon có trữ lượng 300 triệu tấn quặng sylvinit chứa kali với hàm lượng rất cao  (24%). APPC dự kiến sẽ xử lý 5 - 6 triệu tấn quặng/ năm để sản xuất 2,0 triệu tấn KCl/ năm trong thời gian 25 - 30 năm, trong số đó khoảng 400 nghìn tấn/năm sẽ được sử dụng trong nước, phần còn lại được xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á. Công ty APPC cũng sở hữu một mỏ thứ hai tại Udon, lớn gấp khoảng 3 lần mỏ đầu tiên. Mỏ này nằm ở độ sâu khoảng 350m. APPC chờ đợi chính phủ Thái Lan thông qua luật về quyền sở hữu đối với các mỏ khoáng sản ngầm dưới mặt đất. Nhưng APPC gặp rắc rối với khoảng 20 nghìn người dân sống ở khu vực dự kiến sẽ xây dựng mỏ. Công ty đã cố gắng giải quyết những vấn đề về môi trường và công ăn việc làm, nhưng những cuộc tranh chấp đã trở nên căng thẳng hơn khi các tổ chức phi chính phủ can thiệp vào. Trong tình hình hiện tại, có vẻ như những mẻ quặng đầu tiên sẽ chỉ bắt đầu được khai thác và chế biến sớm nhất là vào năm 2009.

Nhập khẩu phân kali của châu Á

Những nguồn nhập khẩu phân kali quan trọng nhất của châu Á là Canađa, Nga, Bêlarút, chiếm 80% lượng phân kali nhập khẩu vào châu Á. Phần lớn các nước xuất khẩu quan trọng này đều có một công ty chuyên về xuất khẩu phân kali sang châu Á. Ví dụ, phân kali từ Canađa được nhập khẩu vào châu Á qua Công ty Canpotex. đây cũng là công ty xuất khẩu phân kali lớn nhất thế giới. Canpotex đạt doanh số 5 - 6 triệu tấn/năm, trong đó thị trường lớn nhất của công ty là TQ. ở Nga thì Công ty Urakali là công ty chuyên về xuất khẩu phân kali sang châu Á. Trước đây công ty này cũng thông qua Canpotex, nhưng hiện nay đã xuất khẩu trực tiếp.

Những công ty xuất khẩu phân kali quan trọng khác sang châu Á là Công ty Phân Kali Biển chết tại Ixraen và Công ty Phân kali Arập tại Gioócđani.

Trong tình hình giá phân kali cao và tỉ lệ vận hành công suất tại Canađa đạt khoảng 80%, các công ty phân kali khác tại Canađa đang tăng công suất và đôi khi còn vận hành lại những cơ sở đã tạm ngừng hoạt động. Vì vậy, trong tương lai Canađa có khả năng vẫn tiếp tục là nước cung ứng chính đối với phân kali cho châu Á. Tại  các nước SNG, Bêlarút không có kế hoạch mở rộng các nhà máy về trung hạn, còn ngành sản xuất phân kali của Ucraina có vẻ như đã ngừng hoạt động. Tại Nga, dự kiến vào năm 2010 một nhà máy phân kali công suất 2,2 triệu tấn /năm sẽ đi vào vận hành.

TN

Theo Fertilizer International,2006

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)