Triển vọng của ngành phân bón Thổ Nhĩ Kỳ

12:00' AM - Thứ hai, 10/12/2007

Trong 13 năm qua nền kinh tế của Thổ Nhĩ Kỳ đã có nhiều thay đổi. Năm 1994, kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ lâm vào khủng hoảng với một khoản nợ khổng lồ, đồng lia mất giá liên tục. Lúc đó, trợ cấp của Nhà nước đóng vai trò chính trong các hoạt động kinh tế và nỗ lực của chính phủ nhằm khôi phục nền kinh tế theo những tiêu chí của thị trường tự do bị phản kháng mạnh mẽ. Tình hình bất ổn đó đã ảnh hưởng tới nền công nghiệp phân bón Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1994 và 1995, lượng tiêu thụ phân bón giảm tới 30%.

Cũng như toàn bộ nền kinh tế, ngành công nghiệp phân bón Thổ Nhĩ Kỳ đã cố gắng đứng vững trong thời kỳ bão táp đó. Hiện nay, ngành công nghiệp này chủ yếu thuộc khu vực kinh tế tư nhân.

Sự rút lui từ từ của chính phủ

Nền kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ đang được công nghiệp hóa nhiều hơn và hướng tới ngành dịch vụ, nhưng nông nghiệp vẫn chiếm 12% tổng thu nhập quốc nội (GDP). Trong thập kỷ qua, các hệ thống khuyến khích đã bắt đầu bị xóa bỏ, việc Thổ Nhĩ Kỳ xin gia nhập EU thúc đẩy thêm quá trình này. Trợ cấp của chính phủ dành cho ngành phân bón đã bị cắt giảm và trợ giá dần dần được thay thế bằng cơ chế định giá sàn.

Tuy nhiên, chính phủ không rút lui hoàn toàn khỏi lĩnh vực nông nghiệp, họ đã triển khai một số dự án phát triển, trong số đó có Dự án Đông Nam Anatolia (GAP). Dự án được tập trung vào 9 tỉnh vùng châu thổ Tigris- Euphrate nhằm khai thác nguồn nước ở khu vực này để sản xuất điện và thiết lập một hệ thống kênh tưới tiêu cho 1,7 triệu ha đất. Dự án GAP được bắt đầu năm 1990 và có chi phí ước tính 32 tỉ USD.

Chính phủ cũng đang tiến hành một số dự án nghiên cứu và mở rộng nông nghiệp, ví dụ dự án dành cho vùng trồng lúa mì ở trung tâm Anatolia. Vì những cánh đồng ở vùng này thường xuyên thiếu kẽm nên từ năm 1993 đã được cung cấp miễn phí loại phân hóa học này.

Mặc dù thị trường phân bón Thổ Nhĩ Kỳ đã được tự do hóa từ năm 1987, cho phép các nhà sản xuất tư nhân có quyền mua bán phân bón nhưng nhà nước vẫn tiếp tục kiểm soát việc marketing và tổ chức phân phối.

Ai là ai trong ngành công nghiệp phân bón

Sự tham gia của chính phủ đã dẫn đến sự hình thành nền công nghiệp phân bón bản địa. Giữa những năm 1950, đã hình thành 2 công ty Gubretas và Tugsas. Nhà máy sản xuất chính của Gubretas đặt tại Yarimca, sản xuất amoni nitrat (AN), MAP/DAP, NP, NPK, TSP và urê. Năm 2002, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đầu tư 4,1 triệu USD vào công ty này để nâng cấp chi nhánh tại Iskenderun của công ty.

Công ty Tugsas hiện cũng hoạt động trong lĩnh vực này nhưng đã trải qua quá trình tư nhân hóa một cách cơ bản hơn. Công ty có trụ sở tại Ankara và có 3 công ty con là Gemlik, Samsun và Kutahya. Các công ty này chủ yếu sản xuất amoniăc, AN, MAP/DAP và NPK. Riêng Gemlik có một cơ sở sản xuất 300 nghìn tấn amoniac/ năm và 594 tấn CAN/ năm.

Năm 1998, chính phủ quyết định hợp nhất Tugsas với công ty sản xuất phân bón Igsas. Năm 2003, Tugsas-Igsas được bán cho Yildiz với giá 100 triệu USD và Gemlik được bán với giá 83 triệu USD cho Yilyak.

Năm 2004, một công ty con khác của Tugsas được rao bán. Công ty này có sản lượng 264 nghìn tấn DAP/ năm, 292,5 nghìn tấn NP và NPK/ năm, 199,1 nghìn tấn axit sunfuric/ năm và 172,8 nghìn tấn axit photphoric/ năm. Cuối cùng Samsun thuộc về Toros.

Công ty hóa dầu quốc doanh Petkin cũng tham gia vào ngành phân bón vì sản xuất amoni sunfat từ nguồn amoniăc của Ucraina. Hiện nay, chính phủ còn sở hữu 62% của Petkin, 38% còn lại nằm ở Sàn giao dịch chứng khoán Istanbun thông qua quá trình chào bán ra công chúng (IPO).

Bagfas và công ty con Ege Gubrra cũng đã thuộc về khu vực kinh tế tư nhân từ lâu. Các nhà máy sản xuất của Bagfas tập trung tại Bandirma, sản xuất các loại phân đạm và phân lân, bao gồm AN/CAN, TSP, MAP/DAP, amoni sunfat, NP/NPK, kể cả axit photphoric và axit sunfuric, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Năm 2004, Bagfas đầu tư cải tiến cho hệ thống sản xuất axit sunfuric, nâng sản lượng lên 1.650 tấn/ ngày. Nhờ sản lượng axit sunfuric tăng, Bagfas đã cung cấp đủ axit cho công ty con Gubre, thay vì trước đây phải nhập khẩu khoảng 6000 tấn/năm. Sản phẩm chính của Gubre là MAP, nhà máy NPK 330 nghìn tấn/năm của công ty có thể sản xuất khoảng 130 nghìn tấn DAP/ năm. Ngoài ra, các sản phẩm của Gubre như urê, CAN, AN, TSP và amoni sunfat được công ty mẹ tiêu thụ và xuất khẩu.

Vị trí hàng đầu của Toros

Tekfen Agri Industry Group là nhà sản xuất phân bón lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ, thông qua công ty con Toros Agri. Toros Agri được thành lập tại Ceyhan, bắt đầu sản xuất năm 1981 và hiện nay sản xuất khoảng 1/3 lượng phân bón của Thổ Nhĩ Kỳ, khoảng 1,5 triệu tấn/năm cho mục đích sử dụng trong nước và xuất khẩu. Khu liên hợp Ceyhan của Toros gồm 2 nhà máy NPK, một trong 2 nhà máy cũng có thể sản xuất DAP. Tùy theo yêu cầu, sản lượng của nhà máy là 132 nghìn tấn MAP/ năm hoặc 660 nghìn tấn NPK/ năm và 220 nghìn tấn DAP/ năm hoặc 330 nghìn tấn NPK/ năm.

Nhà máy Mersin bao gồm 5 đơn vị sản xuất và 1 hệ thống đóng gói. Đơn vị chính sản xuất 594 nghìn tấn CAN/ năm và 150 nghìn tấn DAP/ năm, chiếm 38% và 28% sản lượng quốc gia. Các đơn vị còn lại gồm một nhà máy axit nitric công suất 363 nghìn tấn/năm, một nhà máy sản xuất axit sunfuric 214,5 nghìn tấn/năm, một nhà máy axit photphoric 71 nghìn tấn P2O5/ năm.

Nền công nghiệp phân bón Thổ Nhĩ Kỳ đã vững mạnh hơn nhiều so với 13 năm trước đây, trước mắt là đủ sức đáp ứng tốt nhu cầu của ngành nông nghiệp trong nước. Tuy nhiên, nếu xét tới nhu cầu trong nước đang tăng không ngừng và cơ hội xuất khẩu sang các nước láng giềng, ngành phân bón Thổ Nhĩ Kỳ còn phải đầu tư nhiều để củng cố các cơ sở sản xuất của mình. Sau khi dự án GAP hoàn thành, dự đoán nhu cầu trong nước sẽ tăng nhanh trong vòng 5 - 10 năm tới, tổng nhu cầu có thể sẽ tăng khoảng 25% trong những năm 2003 - 2013.

Ngành phân bón Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay cũng bị hạn chế do phụ thuộc vào năng lượng và nguyên liệu nhập khẩu. Đây là một bất lợi lớn cho khả năng cạnh tranh. Chính phủ nước này đang tiếp tục khuyến khích các nhà sản xuất phân bón đầu tư vào các nguồn lực sẵn có trong nước.

NGUYỄN HƯƠNG

Theo Fertilizer International, số 418, tháng 5-6/2007

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)