Hóa học ở Ấn Độ và trung quốc trong các thế kỷ đầu công nguyên

12:00' AM - Thứ hai, 09/12/2002

Vào đầu công nguyên (CN) các nước ở phía Đông Á hầu như không có mối quan hệ chính trị và kinh tế với Tây Âu mà phát triển theo con đường riêng của mình. Tại hai trung tâm văn hóa lớn ở châu á lúc này là Trung Quốc và ấn Độ nghề thủ công hóa học tiếp tục triển.

ở ấn Độ, tuy vào thời Alexăngđrơ Maxêđoan nhờ các cuộc hành quân chinh phục Tây Bắc ấn Độ đã có những mối liên hệ giữa ấn Độ với nền văn hóa Hy Lạp, nhưng tới đầu CN thì mối liên hệ này không còn nữa.

Trong những thế kỷ đầu CN, các ngành sản xuất thủ công ở ấn Độ tiếp tục phát triển. Một số tài liệu, ví dụ cuốn 'Ăckhasatơra" do vị đệ nhất thượng thư Castilia (hay Tranakia) của vương triều Maori (32l - 296 trước CN) viết có nhắc đến kỹ thuật luyện kim và hóa học. Trong sách có nêu các kiến thức về quặng vàng, bạc, đồng, chì, thiếc và sắt; các phương pháp khai quặng và nấu kim loại; các nghề thủ công như nấu rượu...

Ở ấn Độ cũng lưu truyền học thuyết về sự biến đổi các kim loại và học thuyết coi thủy ngân và lưu huỳnh là nguồn gốc của mọi thứ kim loại.

Từ mấy chục năm đầu CN ở ấn Độ người ta đã biết đến nhiều hóa phẩm như đồng sulfat và sắt sulfat, trong y học đã dùng các chế phẩm của lưu huỳnh. Ngoài ra người ta cũng dùng các hợp chất của asen (asen sulfua), dấm, kiềm. Từ thế kỷ thứ 4, người ấn Độ đã biết đến asen oxyt (As2O3), biết dùng phèn chua để cầm máu, từ năm 600 đã biết đến diêm tiêu.

Một bằng chứng về trình độ cao của kỹ thuật luyện kim ở ấn Độ thời đó là cột sắt ở Đêli có khối lượng khoảng 6,5 tấn; cao 7,3 mét; đường kính ở đáy là 41,6 cm; đường kính ở đỉnh là 29,5 cm. Cột được chế tạo vào thế kỷ thứ 4 làm đài kỷ niệm chiến thắng và đến năm 1050 thì được chuyển về Đêli.

Cột cấu tạo từ sắt hầu như nguyên chất (99,72% Fe) và có chứa ít tạp chất cacbon, lưu huỳnh, photpho, vì vậy có khả năng chống ăn mòn rất tốt và tồn tại suốt hơn một nghìn năm cho đến ngày nay mà không hề bị gỉ.

Từ những thế kỷ dầụ CN ngành giả kim thuật đã phổ biến rộng rãi ở ấn Độ và đã xuất hiện nhiều tác giả giả kim thuật, trong số đó nhà giả kim thuật vĩ đại nhất là Nagaruyna (thế kỷ thứ 8) đã mô tả các phương pháp cố định thủy ngân và các phép biến đổi giả kim thuật điển hình khác.

Ở Trung Quốc, một vương quốc lớn và đông dân vào bậc nhất của thế giới cổ đại, với cuộc sống cực kỳ xa xỉ ở cung đình, cũng đã có nhiều thành tựu lớn trong việc phát triển các nghề thủ công hóa học vào những thế kỷ đầu CN. Ngoài sự phát triển kỹ thuật chế biến quặng và nấu kim loại, hoàn thiện kỹ thuật nhuộm, mở rộng số lượng các loại thuốc nhuộm, ở Trung Quốc còn có nhiều sáng chế kỹ thuật quan trọng khác.

Vào năm 12 trước CN, trong biên niên sử của Trung Quốc đã có nói đến giấy. Năm 105 một vị đại thần là Sai Lung sáng tạo ra cách chế giấy từ vỏ cây, giẻ rách.,. phương pháp này về sau được truyền bá sang nhiều nước châu Á (Triều Tiên năm 600, Nhật Bản năm 610), đến năm 751 thì nghề sản xuất giấy ở Trung Quốc đã phát triển tới quy mô công nghiệp. Trung Quốc còn là nước đầu tiên phát minh ra phương pháp in sách.

Ngành sản xuất đồ gốm ở Trung Quốc sớm đạt tới trình độ cao. Từ thời Hán (206 trước CN) đã có nhiều cải tiến nhằm hoàn thiện việc sản xuất bát đĩa từ đất nung, có thể là những đồ sứ đầu tiên đã xuất hiện ngay từ thời kỳ này, tuy hãy còn thô vì lò nung chưa hoàn thiện. Đến thế kỷ thứ 7, người ta đã biết cách xây dựng những lò nung đặc biệt và bắt đầu sản xuất đồ sứ hàng loạt theo quy mô công nghiệp và đồ sứ Trung Quốc chẳng bao lâu đã trở thành nổi tiếng khắp thế giới. Bí mật về sản xuất đồ sứ được người Trung Quốc giữ rất kín, mãi đến thế kỷ 17 người châu Âu mới biết được.

Trung Quốc cũng là nơi đầu tiên sáng chế ra thuốc nổ, vào các thế kỷ đầu CN, người Trung Quốc đã biết cách chế thuốc nổ gồm có diêm tiêu và lưu huỳnh (lưu huỳnh vốn vẫn được dùng trong y học đã từ lâu). Muộn nhất là đến thế kỷ 6 ở Trung Quốc đã có các công xưởng sản xuất các loại "chất cháy " dùng trong các cuộc hội hè ở cung đình. Năm 682 nhà giả kim thuật Xung - Xư - Mao đã mô tả một trong những mẫu thuốc súng đầu tiên làm từ lưu huỳnh, diêm tiêu và bột gỗ. Vào năm 808 một nhà giả kim thuật khác là Sin-Xui-Sư nói về thuốc súng chế từ lưu huỳnh, diêm tiêu và than gỗ. Vào triều đại Tấn (618 - 907) thuốc súng được dùng làm chất nổ trong quân sự. Đến thế kỷ 12 ở Trung Quốc phổ biến thứ hỏa khí chế tạo bằng ống tre có nhồi thuốc súng và đạn viên. Bí mật về thuốc súng từ Trung Quốc nhanh chóng truyền sang cho người Arập rồi qua họ sang Bizăngtium và là cơ sở để chế tạo ra loại "chất cháy " gọi là "lửa Hy Lạp". ở châu Âu mãi đến thế kỷ 13 thuốc nổ mới xuất hiện.

Nền giả kim thuật Trung quốc phát triển mạnh từ các thế kỷ đầu CN, gắn liền với ma thuật và chiêm tinh, với cách diễn tả thần bí dưới dạng mật mã, các câu thần chú và những ký hiệu bí ẩn giống như nền giả kim thuật châu Âu sau này. Trong triều đình của các hoàng đế Trung Quốc có các nhà giả kim thuật đồng thời và là đạo sĩ và nhà chiêm tinh. Một trong những nhiệm vụ của họ là chế thuốc "trường sinh bất tử" dâng lên cho hoàng đế. Thành phần của các thứ thuốc này thường có chứa muối thủy ngân rất độc làm cho nhiều vị hoàng đế nhẹ dạ và các vị đại thần tham sống bị bỏ mạng. Vì vậy thường thường các nhà giả kim thuật bắt buộc phải uống thử thuốc "trường sinh" trước khi dâng lên nhà vua.

Ở Trung Quốc giả kim thuật phồn thịnh từ thế kỷ 2 trước CN và về sau lan truyền rất mạnh. Một nhà giả kim thuật nổi tiếng là Vây - Pô - An (vào khoảng năm 140) còn để lại một số tác phẩm. Trong một cuốn sách, ông đã kê công thức chế tạo "thuốc bất tử" với những câu văn bóng gió, bí hiểm. Một đoạn văn tả lò "luyện đan" như sau: "hình dạng lò như mặt trăng nằm ngửa, một con bạch hổ bị đốt nóng trong lò. Thêm một con rồng xanh, mặt trời thủy ngân hiện ra như viên ngọc cháy, phương Đông và phương Tây cùng biến mất. Thế là "Hùng" và "Bi" đối kháng với nhau. Xích điểu (chim đỏ) là hồn của lửa, nó chia đều cả thắng lẫn bại. Kìa nước dâng lên và lửa bị dấp xuống...".

Trong những đoạn văn rắc rối như vậy ra có thể thấy bóng dáng của một số hóa chất, trong đó thường gặp nhất là thần sa (HgS). Một truyền thuyết kể rằng sau khi chế xong thuốc "trường sinh", Vây - Pô - An đã cùng với các học trò uống thử và cho cả con chó uống. Tất cả đều chết, nhưng "rồi họ lại hồi sinh và trở thành bất tử'.

Nhà giả kim thuật kiêm đạo sĩ Cố Hưng sống vào giai đoạn muộn hơn (281 - 361). Tác phẩm "Pao - pu - xu" của ông gồm 70 cuốn, phần đầu nói về cách chế thuốc trường sinh và các thứ thuốc chữa bệnh khác, sau đó là cách chế vàng nhân tạo, trong đó có đề cập đến cách nung thần sa vàng ngưng tụ hơi thủy ngân theo phản ứng :

HgS + O2 = SO2 + Hg

Cố Hưng cho rằng khi nung nóng mạnh thì thần sa sẽ chuyển thành vàng.

Khi nhận xét về những nét đặc trưng của nền giả kim thuật Trung Quốc và nền giả kim thuật châu Âu sau này, nhiều người cho rằng có một mối liên hệ nào đó, nhưng cho đến nay vẫn chưa rõ con đường thâm nhập các tư tưởng giả kim thuật Trung Quốc sang châu Âu diễn ra như thế nào.

VŨ TRUNG

Sưu tầm

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,