Dự báo kinh tế toàn cầu giai đoạn 2000 - 2004

12:00' AM - Thứ hai, 09/12/2002

Dự báo chung

Kinh tế toàn cầu đang phát triển rất nhanh chóng. Tính theo PPP (Purchase Power Parities - sức mua), trong năm 2000, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu có thể lên tới 4,4%, cao hơn mức tăng trưởng ngay trước khủng hoảng kinh tế châu Á. Bản thân mức tăng trưởng ngay trước khủng hoảng kinh tế châu Á vốn đã rất cao so với những năm 1980 và những năm đầu 1990. Sang năm 2001, do những chính sách đặc biệt của Mỹ, kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng với một tốc độ thấp hơn đôi chút. Nhưng từ năm 2003, tốc độ tăng trưởng sẽ tiếp tục gia tăng nhanh chóng.

Dự báo từng khu vực

Mỹ

Năm 2000, GDP của Mỹ có thể tăng trưởng với tốc độ 4,9%. Tốc độ tăng trưởng cao nhưng tỷ lệ lạm phát vẫn không lên cao. Nạn thất nghiệp giảm, tiền lương thực tế và các khoản chi ngoài lương cho người lao động cũng chỉ tăng ở mức độ nhất định. Đó là do trong những năm 1997 - 1998 đồng đôla có giá trị cao, trong khi hàng tiêu thụ ở Mỹ và hàng hóa của châu Á trên thị trường thế giới có giá rẻ và đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng của sức sản xuất trong những năm vừa qua. Tuy nhiên tác động tích cực của những nhân tố này đã bắt đầu suy giảm. Trong năm ngoái giá dầu trên thế giới đã tăng vọt, châu Á đã vượt qua cuộc khủng hoảng, đồng đôla đã giảm giá khoảng 6% so với năm 1998... và tỷ lệ lạm phát lại bắt đầu gia tăng. Những năm gần đây tốc độ tăng trưởng kính tế cao đã dẫn đến tình trạng mất cân đối của các hoạt động xuất nhập khẩu trong nền kinh tế Mỹ. Thâm hụt cán cân thanh toán năm 1999 là 3,7% GDP và có thể tăng lên 4,2% đối với năm 2000. Trong khi đó, để trang trải chi phí và đẩy mạnh đầu tư, tổng giá trị các khoản vay của khu vực tư nhân đã lên tới 4,5% GDP. Nếu tình trạng mất cân đối này vẫn tiếp diễn thì sẽ xảy ra những biến động kinh tế bất lợi. Vì vậy, hệ thống ngân hàng Mỹ (Federal Reserve, bao gồm 12 ngân hàng khu vực) đã phải thắt chặt chính sách tiền tệ nhằm khống chế lạm phát.

Nhật Bản

Trong nửa cuối năm 1999, kinh tế Nhật Bản rơi vào tình trạng suy thoái kỹ thuật. Nguyên nhân chủ yếu là sự cắt giảm các khoản trợ giúp của chính phủ. Khu vực tư nhân gặp nhiều khó khăn vì không đủ khả năng bù đắp những khoản chi phí thiếu hụt. Hoạt động xuất khẩu giảm sút mặc dù nhu cầu nhập khẩu hàng hóa Nhật Bản của Mỹ và của các nước đang phát triển ở châu Á vẫn rất cao. Đương nhiên, chính phủ Nhật Bản chỉ có thể nới lỏng chính sách tài chính trong một giới hạn nhất định. Vì vậy, việc cải cách doanh nghiệp nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động và gia tăng lợi nhuận là rất cần thiết, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp ngoài khu vực ngân hàng, khi các ngân hàng có xu hướng phân biệt dối xử trong chính sách cho vay. Tuy nhiên, trong tương lai ngắn hạn, chính sách cải tổ sẽ dẫn đến việc thực hiện biện pháp cắt giảm lao động và gây ra những tác động tiêu cực đối với người lao động cũng như đối với việc lưu thông hàng hóa trên thị trường tiêu thụ.

Trước mắt, đối với nền kinh tế Nhật Bản, chỗ dựa cho sự phát triển là hoạt động xuất khẩu và nguồn tài trợ của chính phủ. Trong tương lai trung hạn, khu vực tư nhân sẽ vươn lên và trở thành động lực chính. Tuy nhiên, cũng cần phải có một thời gian nhất định để nền kinh tế này phát triển mạnh mẽ hơn. Công cuộc cải cách chưa thể mang lại ngay những hiệu quả cụ thể. Ngoài ra, còn có những nhân tố khác làm hạn chế nhịp độ phát triển kinh tế trung hạn như những khó khăn của hệ thống bảo hiểm, tình trạng lão hóa dân cư và thiếu hụt lao động. Trong giai đoạn 2000 - 2004, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản sẽ cao hơn so với những năm l990 nhưng vẫn còn thấp hơn so với các nước khác trong khối OECD (Organisation for Economic Cooperation and Development - Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế).

Tây Âu

Các nền kinh tế Tây Âu không rơi vào tình trạng mất cân đối như ở Mỹ và nói chung vẫn duy trì được sự phát triển ổn định. Tình trạng thiếu nhân lực vẫn còn tiếp diễn tại một số nước như Đức, Pháp và Italia. Do có tạo thêm nhiều việc làm mới nên khả năng tiêu thụ hàng hóa được thúc đẩy. Đó là những điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế ở 11 nước sử dụng đồng Ơrô (Euro - 11) và 15 nước trong Liên hiệp châu Âu (EU 15), mặc dù đến cuối giai đoạn 2000 - 2004 tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể chững lại do hạn chế của nhịp độ gia tăng việc làm. So với EU 15, GDP của Euro - 11 gia tăng nhanh chóng hơn, mặc dù cho đến năm 2004, tỷ lệ thất nghiệp ở các nước thuộc nhóm này vẫn còn cao hơn so với các nước ngoài nhóm (Anh, Thụy Điển, Đan Mạch). GDP ở Pháp, Đức tăng trưởng nhanh chóng, còn các nước Hà Lan, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ireland có nhịp độ tăng trưởng kinh tế không cao.

Tốc độ tăng trưởng kính tế của Pháp sẽ tăng từ 2,6% năm 1999 lên 3,7% năm 2000. Đó là nhờ sự tăng cường hoạt động xuất khẩu, sự gia tăng số lượng người lao động được tuyển dụng, sự phát triển nhu cầu tiêu thụ hàng hóa ở Pháp và trên thị trường quốc tế đều gia tăng, cũng như nhờ tình hình tài chính ổn định của các doanh nghiệp.

Đức, tuy tốc độ tăng trưởng không được cao như ở Pháp, các hoạt động kinh tế cũng phát triển nhanh chóng trong năm 2000. Hoạt động xuất khẩu được đẩy mạnh, nhưng nhu cầu tiêu thụ không tăng nhanh như ở hầu hết các nước thành viên Liên hiệp châu Âu (EU). Đầu tư sẽ được đẩy mạnh trong việc phát triển các nhà máy và các loại thiết bị, nhưng chi phí đầu tư trong lĩnh vực xây dựng chỉ mới vượt qua mức thấp nhất sau một số năm giảm sút. Mức tiêu thụ cá nhân vẫn còn bị hạn chế do số lượng người lao động được tuyển dụng tăng chậm.

Trong nhóm Euro - 11, có lẽ Italia sẽ là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp hơn cả. Sau một giai đoạn tăng trưởng chậm từ 1996 đến 1999, với GDP thực chỉ tăng trung bình 1,2%/năm, kính tế Italia sẽ phát triển mạnh hơn từ năm 2000 trở đi. Động lực phát triển chính sẽ là các hoạt động xuất khẩu, trong khi các ngành khác như ngành dệt và ngành cung cấp hàng hóa phục vụ đầu tư vừa phải trải qua hai năm đầy khó khăn. Nhu cầu trong nước cũng còn hạn chế. Số người lao động được tuyển dụng sẽ gia tăng với tốc độ 1%/năm. Do những cải cách về chế độ hưu trí và bảo hiểm xã hội, nói chung trong giai đoạn 2000 - 2004 mức tiêu thụ cá nhân cũng bị hạn chế.

Sau khi tránh được tình trạng suy thoái kinh tế vào đầu năm 1999, nền kinh tế của Anh, tức là nền kinh tế lớn nhất EU ngoài nhóm Euro, đã hồi phục nhanh chóng trong nửa cuối 1999 với tốc độ tăng trưởng 1,9%. Mặt khác, chính sách tiền tệ nghiêm ngặt đã bắt đầu tác động tới nền kinh tế. Cũng như các nước khác trong EU, nền kinh tế này sẽ phát triển mạnh hơn trong năm 2000 với tốc độ tăng trưởng dự kiến là 3%. Nhịp độ này sẽ giảm đôi chút xuống một mức độ ổn định hơn vào những năm sau.

Các nền kinh tế đang chuyển đổi

Trung Đông Âu

Sau thời kỳ trì trệ vào nửa sau năm 1998, tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của khu vực này đạt mức 1,9% tính theo sức mua. Tuy nhiên, trong số 27 nước thuộc khu vực này, có tới 9 nước có tổng sản lượng suy giảm và đối với hầu hết các nước khác, tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn tiếp tục giảm.

Các nền kinh tế Ba Lan, Hungary, Cộng hòa Séc và Xlôvakia sẽ có tốc độ tăng trưởng cao hơn trước kia. Động lực chính trong phát triển kinh tế ở các nước này là các hoạt động xuất khẩu và đầu tư, trong đó có sự gia tăng của đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI).

Theo dự kiến, GDP thực của Bungari sẽ tăng 3% trong năm 2000. Động lực chủ yếu là xuất khẩu, đầu tư, nhu cầu nhập khẩu của thị trường nước ngoài và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp do tăng cường đầu tư.

Sau ba năm liền suy thoái, Rumani sẽ đạt mức tăng trưởng 1% trong năm 2000, chủ yếu là nhờ các hoạt động xuất khẩu và nhu cầu trong nước. Do hậu quả của chiến dịch ném bom của NATO (từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1999), GDP của Nam Tư đã giảm 19,3% trong năm 1999 và chỉ tăng trưởng ở mức thấp trong năm 2000.

Sau thời kỳ khó khăn vào năm 1999, các nền kinh tế Latvia và Litva sẽ phát triển mạnh hơn trong năm 2000.

Năm 2000, nền kinh tế Nga sẽ có tốc độ tăng trưởng dương, nhưng khó có thể đạt được mức 3,2% như trong năm 1999. Do đồng Rup mất giá, phạm vi sản xuất hàng thay thế nhập khẩu đang bị thu hẹp. Tuy nhiên đã có những dấu hiệu đổi mới cơ cấu trong lĩnh vực công nghiệp như giá trị lợi nhuận gia tăng và hoạt động sản xuất công nghiệp phát triển. ý nghĩa của những xu hướng này là ở chỗ chúng đã phát triển lên được sau khi thoát khỏi tình trạng suy thoái tồi tệ nhất. Trong một tương lai từ ngắn hạn đến trung hạn, chúng sẽ bám rễ vững chắc trong một viễn cảnh với các quy định thích hợp về thuế và với giá cả ổn định.

Châu Á (trừ Nhật Bản)

Trong giai đoạn 2000 - 2004, nói chung nền kinh tế châu Á sẽ hồi phục với tốc độ tăng trưởng kinh tế là 6,2%.

Sau khi bị suy thoái 6% trong năm 1998, tốc độ tăng trưởng GDP của khối ASEAN trong năm 1999 là 3%. Trong 5 năm tới, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của ASEAN có thể lên tới 5,2%/năm.

Trong 5 năm tới, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc sẽ thấp hơn (dưới 8%) so với mức tăng trưởng hai chữ số giữa những năm 1990. Nguyên nhân chủ yếu của điều đó là tác động của việc tiếp tục thực hiện những cải cách cơ cấu. Sự gia nhập của Trung Quốc vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ tạo điều kiện cho nước này đạt một nhịp độ tăng trưởng kinh tế trên 7%/năm và một tốc độ tăng trưởng GDP theo đầu người trên 6%.

Sau hai năm suy thoái 1997 và 1998, nền kinh tế Hàn Quốc đã bước vào thời kỳ phục hồi mạnh và sẽ đạt mức tăng trưởng 5% trong năm 2000. Cũng như Hàn Quốc, các nền kinh tế Đài Loan và Xingapo sẽ phát triển nhanh do sự gia tăng của các hoạt động thương mại trên thế giới và nhu cầu cao về các sản phẩm của công nghệ thông tin. Kinh tế Hồng Kông phần nào bị ràng buộc bởi các hoạt động tái xuất từ Trung Quốc.

Nhờ các dự án FDI và các kết quả cải cách cơ cấu, khu vực Nam á cũng sẽ đạt tỷ lệ tăng trưởng 6,5%, cao hơn mức 6,2% trong giaiđoạn 1994 - 1998, mặc dù có những biến động chnh trị tại Xri Lanka, Pakixtan và ấn Độ.

Châu Mỹ La tinh

Trong năm 2000, các nước Braxin, Achentina, Chilê, Côlômbia, Ecuađo và Vênêzuêla sẽ đạt tốc độ tăng trưởng GDP dương. Những nhân tố thuận lợi chủ yếu cho quá trình phát triển ở các nước này là tình hình sản xuất và kinh doanh thuận lợi ở Braxin, chỉ số giá cả tiêu thụ gia tăng và những thuận lợi trên thị trường tài chính thế giới. Trong giai đoạn 200l - 2004, tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của khu vực này sẽ đạt mức dưới 4%. Những nhược điểm về cơ cấu sẽ cản trở khả năng nâng mức tăng trưởng này lên, trên 5%. Trong năm 2000, Braxin sẽ đạt mức tăng trưởng 3,9%, còn Achentina sẽ đạt mức tăng trưởng 4%.

Trung Đông và Bắc Phi

Do giá dầu tăng, Bán đảo ả rập và Vùng Vịnh có thể đạt mức tăng trưởng 3,l% trong năm 2000 và 3,5% trong năm 2001. Tại Đông Địa Trung Hải, mức tăng trưởng trong các năm 2000 và 200l có thể đạt các giá trị tương ứng là 3,6 và 4,4%. Vai trò chủ đạo trong tiểu khu vực này vẫn thuộc về nền kinh tế Ai Cập với những nhân tố phát triển thuận lợi như các hoạt động du lịch đã được phục hồi, giá dầu lên cao, môi trường kinh tế vĩ mô ở trong nước ổn định và môi trường thương mại với nước ngoài được cải thiện.

Tại Bắc Phi, tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể đạt mức 5,8% trong năm 2000 và 5,2% trong năm 2001. Các nước có khả năng đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế trong tiểu khu vực này là Angiêri, Libi, Marôc và Tuynidi.

Châu Phi hạ Sahara

Tốc độ tăng trương kinh tế của châu Phi hạ Sahara sẽ tăng từ 4,5% trong năm 1999 lên 4,8% trong năm 2000 và 5,1% trong năm 2001.

Trong Cộng đồng Phát triển Nam Phi, nền kinh tế Nam Phi sẽđạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 4,2% trong năm 2000 và 3,2% trong năm 2001. Nền kinh tế của các nước Angola, Bôtxoana và Môdămbic sẽ phát triển nhanh. Chỉ có Dimbabuê là còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế.

Tại Đông Phi, Kênya vẫn tiếp tục là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, ở mức trung bình 1,8% kể từ khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ngừng tài trợ vào năm 1997. Tuy nhiên trong năm 2000, một hiệp định mới với IMF có thể được ký kết và nhờ những kết quả cải cách, Kênya có thể đạt mức tăng trưởng GDP 2,3% trong năm 2000 và 4,1% trong năm 2001. Uganđa vẫn duy trì được nhịp độ tăng trưởng GDP cao. Những điểm sáng khác là Burunđi và Ruanđa. Duy chỉ có vùng Sừng châu Phi là vẫn phải chịu đựng những tác động tiêu cực của tình trạng xung đột và kết quả thấp kém trong cải cách kinh tế.

ANH TUẤN

Theo Economic Intelligence

Unit 2000

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,