Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước - hướng đi trong thời gian tới

12:00' AM - Thứ bảy, 12/04/2003

Hiện nay cổ phần hóa các Doanh nghiệp nhà nước đang là vấn đề được bản thân các doanh nghiệp cũng như toàn dân quantâm. Nhiều bạn đọc gửi thư về toà soạn hỏi về vấn đề này. Phóng viên tạp chí CNHC đã phỏng vấn ông Nguyễn Duy Trước (NDT) - Tổng cục phó Tổng cục Quản lý vốn và Tài sản nhà nước tại doanh nghiệp, trưởng ban cổ phần hoá Bộ Tài chính.

Bài phỏng vấn  sau đây góp phần giải đáp thắc mắc của bạn đọc.

PV. Xin ông cho biết những nguyên nhân nào dẫn đến việc thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước chậm ?

Ông NDT. Về mặt khách quan,

cổ phần hóa là một công việc rất mới đối với nước ta và khác hẳn về bản chất so với việc tư nhân hóa ở các nước khác trên thế giới. Do vậy phải mầy mò, làm thử, rút kinh nghiệm và phải thận trọng, từ đó chậm trễ cũng khó tránh khỏi.

Hơn nữa. đất nữa ta còn nghèo, các doanh nghiệp nhà nước đa phần làm ăn kém hiệu quả, tập quán đầu tư theo cách mua cổ phiếu chưa có,lại chưa có thị trường chứng khoán.

Mặt khác, đa số lãnh đạo các doanh nghiệp và người lao động còn luyến tiếc, muốn dựa vào Nhà nước, còn bỡ ngỡ với chủ trương cổ phần hóa, bên cạnh đó việc cổ phần hóa ở Nga và các nước Đông Âukhông thành công dẫn đến bần cùng hóa người lao động đã có tácđộng tâm lý lo ngại, từ đó do dự không muốn cổ phần hóa.

Về mặt chủ quan, có năm nguyên nhân:

1- Việc quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về cổ phần hóa một số doanh nghiệp nhà nước của các ngành, các cấp ở cả Trung ương và địaphương chưa đây đủ, chưa sâu rộng do một số lãnhđạo chính quyền cơ sở lo ngại cổ phần hóa làm mất chủ quyền của Nhà nước, làm mất vai trò kinh tế của quốc doanh, từ đódo dự chần chừ, chưa muốn cổ phần hóa ngay mà còn chờ đợi, nghe ngóng. Một số cán bộ lãnhđạo của doanh nghiệp chưa thấyđược sự cần thiết của việc cổ phần hóa, đa số lo ngại mất quyền lợi,địa vị; người lao động lo lắng mất việc làm, sợ giảm thu nhập, do vậy không hăng hái tiến hành cổ phần hóa. Đây là nguyên nhân cơ bản.

2- .Thêm vào đó, công tác chỉ đạo của Nhà nhóc chậm và lúng túng vì:

* Nhà nước chưa có các văn bản đủ tầm cỡ về mặt pháp lý (luật, pháp lệnh cổ phần hóa).

* Một số nội dung trong văn bản chỉ đạo chưa rõ ràng, nhiều vấn đề chưa được khẳng định dứt khoát như:

- Trách nhiệm của các Bộ, ngành, cácđịa phương trong việc chỉ đạo cổ phần hóa.

- Cổ phần hóa là tự nguyện hay bắt buộc ?

- Những doanh nghiệp nào sẽ cổ phần hóa, những doanh nghiệp nào chưa, hoặc không cổ phần hóa ?

- Tỷ lệ cổ phần chi phối của Nhà nước, tỷ lệ dành cho người lao động trong doanh nghiệp, tỷ lệ bán ra ngoài xã hội, ... bao nhiêu là vừa ?

- Việc bán cổ phân cho người nước ngoài có quy định. nhưng chưacó văn bản hướng dẫn để thực hiện, các ngành, các cấp ít quan tâm đến việc huy động vốn bằng hình thức này, còn lúng túng chưa dám làm.

* Việc giải quyết một số thủ tục về pháp lý để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiến hành cổ phần hóa rất chậm như thủ tục pháp lý về nhà xưởng, đất đai, xác định vốn và chuyển vốn đối với doanh nghiệp sử dụng những tài sản nhà nước do nhiều cơ quan quản lý (vướng mắc nhất đối với sở Nhà đất).

* Quy trình cổ phần hóa rườm rà, phức tạp, nhiều thủ tục phiền phức, tốn kém.

3- Bộ phận chỉ đạo cổ phần hóa ở cả Trung ương và địa phương đều kiêm nhiệm nên không tập trungđược vào công tác chỉ đạo cổ phần hóa dẫn đến công việc bị chậm trễ, kéo dài. Ban Chỉđạo trung ương cổ phần hóa không đủ thẩm quyền quyết đinh trực tiếp các đề án, kế hoạch cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

4- Một số chính sách chế độ cụ thể đối với các doanh nghiệp cổ phần hóa chưa đủ sức hấp dẫn, chưa tạo điều kiện khuyến khích các doanh nghiệp hăng hái tiến hành cổ phần hóa:

Các doanh nghiệp nhà nước vẫnđược nhiều ưu đãi của Nhà nước hơn các công ty cổ phần như: về xuất nhập khẩu, vay vốn ngân hàng, về thái độ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước,...

Người lao động trong các doanh nghiệp đa số còn nghèo, không đủ tiền mua nhiều cổ phiếu, chế độ cấp không cổ phiếu hưởng cổ tức và chế độ cho vay để mua nhiều cổ phiếu trả chậm còn quá ngặt nghèo.

- Cách tính giá trị doanh nghiệp (bao gồm cả việc xác định giá trị lợi thế của doanh nghiệp chưa cócơ sở vững chắc); chế độ ưu đãi đối với các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa chỉđược giảm thuế lợi tức 50% trong 2 năm đầu (bất kể có lãi hay không) còn thấp hơn so vớiđầu tư nước ngoài và khuyến khíchđầu tư trong nước.

5- Huy động vốn toàn xã hội là một mục tiêu chủ yếu của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhưng tỷ lệ cổ phần dành cho xã hội còn quá thấp. Việc tuyên truyền phổ biến chủ trương chính sách về cổ :phần hóa doanh nghiệp nhà nước cũng chưa được tiến hành sâu rộng trong nhân dân, trong người laođộng doanh nghiệp nhà nước kể cả trong các doanh nghiệp dự định tiến hành cổ phần hóa. Đây là sự nghiệp của toàn dân mà đại bộ phận nhân dân chưa quan tâm nênchưa thể triển khai được nhiều.

PV. Hiện nay đã có bao nhiêu doanh nghiệp nhà nước đã được cồ phần hóa ? Tình trạng các doanh nghiệp đó ra sao ?

NDR. Hiện nay đã có 14 doanh nghiệp nhà nước thực hiện thành công cổ phần hóa, chuyển sang hoạt động theo luật Công ty. Nói chung các công ty cổ phần này làmăn thuận lợi, đảm bảo thực hiệnđược mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, được thể hiện trên các mặt: mở rộng được sản xuất bảo toàn và tăng trưởng được vốn, doanh thu, tích lũy, làm nghĩa vụ theo luật đối với ngân sách, thu nhập của người lao động, lợi tức cổ phần, thu hút thêm lao động ở tốc độ cao.

PV. Xin ông cho bạn đọc báođược rõ sự khác biệt giữa cổ phần hóa và tư nhân hóa ?

NDT. Cổ phần hóa là nội dungđa dạng hóa sở hữu, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu của một chủ thể thành sở hữu của nhiều chủ thể, trong đó Nhà nước là một chủ sở hữu. Còn tư nhân hóa làchuyển sỡ hữu Nhà nước thành sở hữu tư nhân, Nhà nước không tham gia là chủ sở hữu một phần vốn và tài sản nào của công ty.

PV. Trong thời gian tới, các doanh nghiệp nhà nước cần phải thực hiện cổ phần hóa theo hướng nào ?

NDT. Hướng tới cần thực hiện một số việc sau:

- Làm cho mọi ngành, mọi cấp, mọi người quán triệt và hiểu rõ về chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp của Đàng và các vãn bản của Chính phủ về cổ phân hóa.

- Các ngành, các cấp cần xem xét những doanh nghiệp do mình thành lập, thực hiện sắp xếp phân loại:

+ Loại Nhà nước cần giữ 100% vốn, không tiến hành cổ phần hóa.

+ Loại doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa mà Nhà nước cần nắm giữ cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt.

+ Loại doanh nghiệp nhỏ, quá nhỏ hoạt động trong lĩnh vực không quan trọng, có thể cổđông Nhà nước chỉ cần đầu tư mộts số cổ phần nhấtđịnh, không cần chi phối.

- Nơi nào chưa hình thành Ban chỉ đạo cổ phần hóa cần thành lập theo hướng dẫn của Ban chỉ đạo trung ương cổ phần hóa.

- Trung ương đang nghiên cứu xem xét cơ chế bố sung, sửa đổi cho phù hợp với thực tế và sự chỉ đạo của Đảng, Chính phủ; đề nghị thủ tướng Chính phủ giao chỉ tiêu cổ phần hóa cho từng ngành và địa phương.

Để thực hiện tốt chủ trương cổphần hóa, các doanh nghiệp nhà nước cần chống tư tưởng chờ đợi; mạnh dạn thực hiện nhằm đạt mục tiêu cổ phần hóa là xuất phát từ yêu cầu phát triển doanh nghiệp nhà nước, nhằm huy động thêm vốn của cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để đầu tư mở rộng ngành nghề, hiện đại hóa công nghệ, tạo thêm việc làm, phân công lại laođộng, phát triển sản xuất, tăng thêm khả năng cạnh tranh, tăng tích lũycho doanh nghiệp, đóng góp chongân sách nhà nước và thu nhập của người lao động.

PV. Xin cảm ơn ông.

TRẦN HOÀNG DUNG
thực hiện

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,