Các xu hướng phát triển ngành sơn trên thế giới

12:00' AM - Thứ bảy, 12/04/2003

Năm 1996, sản lượng sơn của thế giới vào khoảng 51 tỷ pao, cũng bằng mức của năm 1995. Theo thống kê, châu Âu có sản lượng sơn cao nhất, chiếm 34% trong tổ số ( 17,4 tỷ pao). Sau đó là Bắc Mỹ: 28% và Nhật Bản 9%. Khoảng 7% lượng sơn tiêu thụ trên toàn cầu được sử dụng ở các nước công nghiệp nơi mà các quyđịnh bảo vệ môi trường ngày càng trở nên nghiêm ngặt hơn.

Trên thế giới trong năm qua,các hoạt động sát nhập và mua lại của các công ty tiếp tục xảy ra. Kỹ thuật sơn dung môitruyền thống hiện chiếm hơnmột nửa lượng sơn công nghiệp ở Tây Âu và Bắc Mỹ, và hơn 80% ở Nhật Bản. Các áp lực về môi trường chưa đủ mạnh để bắt các nhà sản xuất chuyển sang loại sơn bột, sơnnước, sơn dung môi với hàm lượng các chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC) thấp (hoặc không có VOC) hay sơn đóng rắn bằng bức xạ.

Công nghệ sạch - sản xuất lượng chất rắn cao và sơn đóng rắn bằng bức xạ - đã xuất hiện từ những năm 60. Các công nghệ đó chỉ có thể phát triển nếu các đặc tính của sơn và các yếu tố chi phí - lãi được cải thiện.

Các loại sơn dùng dung môithông thường được sử dụng trong công nghiệp và làm sơn bảo quản trong nhà máy chiếm 57% thị trường sơn Châu Âu và 55% thị trường sơn Mỹ, còn ở Nhật con sốđó là 83%.

Các chuyên gia dự đoán rằng, sơnnướ( sẽ có sự đột phá trong thị trường sơn công nghiệp, đặc biệt là ở Tây Âu. Người ta dự đoán rằng ở Tây Âu vào năm 2006 sơn nước sẽ chiếm 56% lượng sơn công nghiệp, tăng so với con số 12% vào năm ]996. Ngoài ra, công nghiệp còn tăng cường sử dụng sơn có hàmlượng chất rắn cao và các loại sơn phun hai thành phần v.v...

Trong công nghiệp, sơn sử dụng dung môi vẫn chiếm ưu thế (số liệu của năm 1996)

Hiện nay sơn bột cũng đang pháttriển với mức tăng 10% hàng năm.Trong sơn bột có tới 90% có thành phần nhựa nhiệt rắn (gốc epoxy, polyurêtan, epoxy polyeste v.v). Sơn bột có triển vọng sử dụng để sơn kim loại dạng tấm và cuộn. Các công ty của Mỹ như PPG và ICL cóthế mạnh trong lĩnh vực sơn bột. Các công ty đó chú ý phát triển loại sơn bột có nhiệt độ sấy thấp, thuận lợi để sơn gỗ và sơn chất dẻo. Họ cũng phát triển loại sơncó thành phần bột và đóng rắn bằng tia cực tím. Những loại sơnhuyền phù nước - silicon cũngđược phát triền trong ngành xây dựng.

Cần phải chú ý rằng, trong những năm gần đây sơn latexđược sử dụng nhiều để chống ănmòn trong công nghiệp. Sơn latexcũng được sử dụng nhiều trong công nghiệp ôtô. Trong ngành công nghiệp này sơn latex dùngdung môi nước chiếm 26% tổng lượng sơn sử dụng và mức tăngtrưởng hàng năm lên tới 10%, mà chủ yếu để tạo ra các lớp sơn nền. Các lớp sơn nên kết hợp với lớp sơn hoàn thiện làm độ bóng vỏ ôtô lớn hơn .

Kỹ thuật sơn lót sử dụng sơndung môi nước và được sơn bằng phương pháp điện di có nhiều ứng đụng rộng rãi. Theo các thống kê sơn điện di chiếm tới 7% tổng lượng sơn thân môi trường. Sơnđiện di tạo ra được các lớp sơnđồng đêu, cho phép sơn được các chi tiết phức tạp và dễ tự động hóa trong quá trình sơn.

Cơ sở cho lớp sơn lót, sơn theophương pháp điện di là các sản phẩm tổng hợp của epoxyamin trong đó các axit của mono và polycacbonat biến tính.

Đứng vi trí thứ hai về sản lượng các loại sơn mới là sơn có hàmlượng chất rắn cao. Hàm lượng các chất rắn không dưới 60 - 80% tổng lượng các chất khô. Càng có cả loại sơn với 100% là các chất rắn vàđược gọi là sơn không cần dung môi. Mặc dù có giá thành cao, các loại sơn nói trên vẫn có tính kinh tế do lượng dùng (trên một đơn vị diện tích) ít và năng lượng cần để sấy khô tháp. Những loại sơn này có ứng dụng trong công nghiệp ôtô, sơn kim loại cuộn, sơn thiết bị điện.

Chất tạo màng lý tưởng cho loại sơn có hàm lượng chất rắn cao là các oligome epoxy mà thông dụng nhất là nhựa epoxy lỏngđược trộn với chất đóng rắn amin. Trong tương lai sơn với hàm lượng 100% là chất rắn sê phát triền do thời gian làm khô ngắn, chịu được nước và hóa chất và, tạo được các lớp sơn có đ dày không hạn chế.

Sơn khô nhờ bức xạ (không chứa các chất hữu cơ dễ bay hơi), là loại có tốc độ đóng rắn nhanh và được sử dụng có hiệu quả. Theo các số liệu thống kê, vào năm 1994 nhucầu sơn khô nhờ bức xạ ở Mỹ là 42.000 tấn, còn ở Tây Âu là 70.000 tấn, trong số đó có 90% là loại sơnkhô nhờ tia cực tím.

Sự phát triển của sơn thân môitrường làm nhu cầu sử dụng sơndung môi giảm đi. Từ đầu những năm 90, nhu cầu thị trường vê dungmôi cho sơn mỗi năm giảm 1%. Các dung môi hyđrocacbon giảm nhiều nhất (4,8%/năm), đặc biệt là các dung môi hyđrocacbon clo hóa (8,5.%). Tình trạng ở Mỹ càng tương tự. Tại đây, cho tới năm 2000nhu cầu các dung môi hyđrocacbonclo hóa giảm 9,8%/năm, còn các hyđrocacbon thơm và mạch thẳng sẽ giảm 5,7%/năm.

Sản lượng sơn toàn cầu vào năm 1996 là 50,7 tỷ pao và có sự phân bố như sau:

Châu Âu                            34%

Bắc Mỹ                              28%

Nhật                                  9%

Trung Quốc, Hàn Quốc       7%

Châu Mỹ la tinh                  7%

Phần còn lại của thế giới     15%

TIẾN TRUNG
Theo C&EN, 27/10/1997
Tạp chí sơn và ứng dụng,
5/1997 (T.Nga)

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,