Khu công nghiệp - Nhiều hay ít?

12:00' AM - Thứ sáu, 15/08/2003

Nâng cao chất lượng quy hoạch và quản lý

Với 48 khu công nghiệp (KCN), trong đó mớicó 25 KNC hoặc đãvào hoạt động, hoặc đangxây dựng hạ tầng, hoặc đã giải phóng mặt bằng, thì liệu có thể nói rằng chúng ta "lạm phát" KCN không? Hay là vấn đềchất lượng quy hoạnh và quản lý các KCN mới là điều đáng bàn!

Mục tiêu của nướcta là đến năm 2000 có khoảng70-80 KCN và sau năm 2000 là100 KCN. Nếu so với các nướctrong khu vực, số lượngKCN ở Việt Nam chưa phải là nhiều, bởi theo số liệu của Tổ chức môi trườngliên hợp quốc (UNEP), đếncuối năm 1996, Indonesia có 117 KCN, Malaysia có 116 KCN. Vì vậy, đểtrả lời câu hỏi nhiều hay ít trướchết cần xem xét đếncác loại hình KCN hiện có ở nướcta:

Loại hình thứ nhất: Là các KCN đượcthành lập trên khuôn viên đã cócủa một số cơ sởcông nghiệp đang hoạt độngnhằm đáp ứng nhu cầu phát triển KCN theo quy hoạch mới, đồngthời tạo cơ hội củng cố hạ tầng kỹ thuật KCN và có điềukiện xử lý chất thải theo những phương pháp tiêntiến.

- Loại hình thứ hai: Là các KCN đượchình thành nhằm đáp ứng yêu cầu di dời các nhà máy, xí nghiệp từ nội thành của đôthị lớn. Đây là đòihỏ khách quan của quá trình quy hoạch đô thị.

Loại hình thứ ba: Là các KCN có quy mô nhỏ, gắn liền với nguyên liệu nông - lâm - thủy sản, được hình thành ở một số nướccó nhiều nông sản hàng hóa nhưng công nghiệp chế biến chưaphát triển.

- Loại hình thứ tư:Là các KCN hiện đại,xây dựng mới toàn bộ.

Các KCN thuộc ba loại hìnhđầu chiếm gần 60% số lượngKCN hiện có, và trong thời gian tới vẫn cần phải tiếp tục thành lập thêm một số nữa (mỗi tỉnh cần có 1-2 KCN loại này). Tuy nhiên, khó khăn lớnnhất là các công ty phát triển hạ tầng là DN trong nướchầu hết thiếu vốn khi triển khai, trong khi vốn ứng trướccủa khách hàng không đượcdự kiến, vì vậy tiên độ xây dựng kéo dài nhiều khi mất cơ hội thu hút đầutư.

Loại hình thứ tư có20 khu, trong đó có 13 khu (kểcả ba khu chế xuất) do các công ty nướcngoài đầu tưxây dựng và phát triển hạ tầng. Nhìn chung, các KCN này có tốc độtriển khai tương đốinhanh và chất lượnghạ tầng đạttiêu chuẩn quốc tế, có hệ thống xử lý chất thải hiện đại, đồng bộ,một số khu có nhà máy phát điệnriêng. Vì vậy hấp dẫn các công ty nướcngoài có công nghệ kỹ thuật cao, hơnnữa có ưu thế trong việc tiếp thị,vận động đầu tưdo bên nước ngoài tham gia liên doanh có mạng lướikhách hàng rộng trên thế giới.

Tuy nhiên, khi xem xét, quyếtđịnh thành lập KCN thuộc loạinày cần cân nhắc thận trọng hơn,vì đây là những KCN mới cả về cơsở hạ tầng lẫn thu hút đầutư công nghiệp nên nếu thất bại sẽ gây thiệt hại lớn. Yếu tố thành công đốivới loại hình KCN thứ tư là xây dựnghạ tầng phải đồngbộ và đạttiêu chuẩn chất lượngquốc tế, thu hút đầutư vào những khu vực có công nghệ nguồn, sản phẩm xuất khẩu có tính cạnh tranh cao. Nếu nôn nóng lấpđầy diện tích sẽ dẫn đếnchất lượng KCN thấp.

Từ việc phân loại và phân tích nêu trên, ông Lê Xuân Trinh, Trưởngban quản lý các KCN cho rằng: "Không nên đồngnhất hóa các loại hình KCN với nhau đểtừ đó cho rằng việc phát triểnKCN trong thời gian qua là quá nhanh và nhiều".

Song ông Trinh cũng thừa nhận việc phát triển KCN chưađạt được những mục tiêu đềra do chất lượng quản lý của KCN còn nhiều vấn đề tồn tại, vướngmắc cả từ phía Nhà nước lẫnchủ đầutư. Có thểnêu ra một số nguyên nhân chủ quan và khách quan chính.

Một là, công tác quy hoạch chưa sát thực: Đến nay cảnước đã có quy hoạch ưu tiên đầutư phát triển các KCN đếnnăm 2000. Song quy hoạch này dựa trên cơsở đề nghị của UBND các tỉnh, thành phố, chưa thựcsự xuất phát từ quy hoạch ngành kết hợp với lãnh thổ, nên danh mục các KCN chưa sát thực tế và chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển. Cụ thể là: Quyếtđịnh 519/TTgG công bố danh mục33 KCN, chỉ sau một thời gian ngắn đã phải sửa đổi,bổ sung cho TP. HCM một số KCN nhằm đáp ứng nhu cầu chỉnh trang đô thị...Hơn nữa,danh mục quy hoạch mới nêu tên, địa điểm và diện tích chiếm đất,chưa có nội dung kinh tế - kỹ thuật rõ ràng nên khi xem xét không có đủ thông tin đểquyết địnhtrình tự xây dựng; việc thẩm địnhthường mất nhiều thời gian cân nhắc về tính xác thực và sự cần thiết thành lập KCN. Phương pháp, nộidung xây dựng quy hoạch chưa bám sát từngloại hình KCN, dẫn đếngây dư luận "lạm phát KCN" trong thời gian qua.

Hai là, quy định, quy chế thiếu đồng bộ: Các quy địnháp dụng KCN đượcxây dựng tín cơ sởcác luật hiện hành. Theo đó,phát sinh sự phân biệt giữa DN trong nướcvà DN có vốn ĐTNN như: thủtục thành lập DN nướcngoài đơn giản hơn, được ưu đãi hơnvề thuế lợi tức và xuất nhập khẩu nhưngchi phí lại cao hơn DN trong nước(giá thuê đất gấp 16 lần, giá điện0,717 cent/kwh...). Pháp luậtchưa đồng bộ, nhưng điềucần nói hơn là giữa qui địnhcủa pháp luật và việc thực hiện còn có khoảng cách, có nơicó lúc cán bộ thực thi nhiệm vụ làm méo mó quy định, gây phiềnhà, nhũng nhiễu, làm nản lòng các nhàđầu tưvà thui chột cơhội kinh doanh của các DN.

Ba là, quản lý Nhà nướcở các cấp còn khiếm khuyết: Trong năm 1997, Chính phủ đãcho áp dụng cơ chế quản lý "một cửa, tại chỗ" thông qua việc ủy quyền choban quản lý các KCN cấp tỉnh thực hiện một số chức năngquản lý Nhà nước.Phương thứcnày có tiến bộ nhưng vẫncòn nhiều tầng nấc, chồng chéo, thủ tục phiền hà.

Sự phối hợp giữa các ban quản lý các KCN địa phương vàcác sở liên quan thuộc tỉnh chưathật thông suốt rõ ràng. Việc chưacho phép các Ban quản lý KCN hoạt độngtư vấn, dịch vụ cho các DN làm hạn chế tác dụng quản lý "một cửa". Gần đây, nổilên vấn đềxác định giá điệnáp dụng cho các nhà máy phát điệnvà các vướngmắc về thủ tục hải quan, thuế vụ.

Bốn là, bất cập trong việc cung cấp lao độngtại chỗ: Trên địabàn của các KCN đang xuấthiện một nghịch lý là thừa lao độnggiản đơn, thiếu lao độngcó tay nghề. Trong số 3000 lao động đang làm việcở hai KCN Sài ĐồngB và Nội Bài (Hà Nội), tỷ lệ người địa phươngđất thấp. Tại ĐồngNai, các KCN đã tuyển dụng trên 3 vạn lao động, không ít ngườitrong số này là ngườingoài tỉnh, trong khi vẫn còn trên  10 vạn lao độngnội tỉnh, chưa có việc làm. Nguyên nhân chủ yếu là chất lượnglao động địaphương quá thấp hoặc chưa có tay nghề, hoặc chưa đủđiều kiệntối thiểu về trình độhọc vấn để đào tạonghề. Trong tương lai, xu hướng đầu tư vào KCN nhất là các khu quy mô lớn hiện đại,theo các nhà chuyên môn sẽ tập trung vào các lĩnh vực điện máy, điệntử, hóa chất, cơ khí chính xác, viễn thông... Vì vậy, ngay từ bây giờ các địaphương phải chú trọng đàotạo lao độngcó tay nghề thì mới có thể đáp ứng được đòi hỏi của việc phát triểncác KCN.

Năm là, chậmtrễ trong đềnbù, giải phóng mặt bằng: đâylà vấn đề nổi cộm, làm chậm quá trình triển khai các KCN đã đượccấp giấy phép (hiện mới có hơn50% số KCN đượcgiải phóng mặt bằng). Nguyên nhân chủ yếu một mặt do chủ đầutư thiếu vốn đền bù; mặt khác do ngoài tiền đền bù tài sản có trên đất,chủ đầutư còn phảinộp tiền chuyển quyền sử dụng đấtvà các thứ thuế khác (hàng chục tỷđồng cho mỗi KCN) nên đãthiếu vốn lại càng thiêu hơn.Thủ tục nhà đất rắc rối khiến ngườidân không an tâm khi nhận đấtmới, chính sách đền bù lại không thống nhất...Vì thế, nên chỉ tính mức tiền đềnbù và giao cho chủ đầutư thực hiệngiải tỏa như hiệnnay mà không gắn trách nhiệm vận động,giải thích, thuyết phục của các cơquan chính quyền địaphương cũng như việc hướng dẫnngười dânsử dụng đền bù đểlập nghiệp, thì sẽ khó mà cải thiện đượctình hình giải phóng mặt bằng.

Sáu là, chưa chú trọngkhâu tiếp thị, vận động đầu tư:đầu tưhạ tầng KCN đòihỏi vốn lớn, nếu rủi ro sẽ tổn thất nhiều. Sản phẩm của KCN là đất đai, các công trìnhdiện, nước, đườnggiao thông, nhà xưởng, hệ thống thông tin liên lạc... không thể mang đi nơi khácđể bán được. Do vậy, việc tiếp thi, vận động đầu tư giữ vai trò quyết định thànhbại của KCN. Trong thời gian qua, nhiều dự án KCN khi xây dựng chưa xác định đượcthị trường, đối tác cần vận động,nên khi triển khai rất lúng túng, có trườnghợp thụ động ngồi chờ, một sốthiên về đề nghị Nhà nước"nới rộng" ưuđãi để thu hút đầutư. Các cơ quan quảnlý Nhà nướcchưa tích cựcgiúp đỡ các KCN tìm kiếm cơ bộivận động đầu tư như tổchức hội thảo, triển lãm ở trong nướcvà nướcngoài, nghiên cứu, đềxuất các chính sách hỗ trợ kịp thời...

Để khắc phục những tồntại trên, ông Lê Xuân Trinh cho biết trong hai năm 1998 - 1999 sẽkiến nghị Chính phủ và phối hợp với các ngành, địa phương tậptrung vào những vấn đềlớn sau: Đồngbộ hóa hệ thống pháp luật có liên quan đến KCN, nâng cao chất lượngquy hoạch KCN, hoàn thiện mô hình tổ chức, quản lý, thực hiện đúng nguyên tắc "một cửa, tại chỗ"; xây dựng một số quy địnhthông thoáng hơn vềvốn đầutư và giá đất,bao gồm cả việc huy độngvốn ODA cho phát triển hạ tầng KCN; đảm bảo sự hài hòa giữa nội tiêu và ngoại tiêu (hướngDN trong KCN xuất khẩu nhưng khôngcó nghĩa là coi nhẹ thị trườngnội địa),chủ động tiếp thị và vận động đầu tư vào KCN (hợp tác với UNIDO và các tổ chức xúc tiến mậu dịch, đầu tư ở cácnước); đẩymạnh công tác tạo nguồn nhân lực và quản lý laođộng (mở trườnghoặc cơ sởdạy nghề chuyên cho KCN); có biện pháp che chắn nhằm hạn chế tácđộng tiêu cực của khủnghoảng tài chính - tiền tệ ở các nướctrong khu vực (chấp nhận dần tiến độdự án mà không gắn với biện pháp chế tài, hoãn nộp tiền đất,cho phép sử dụng một phần thị trườngtrong nước..)

BẮC HẢI

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,