Đầu tư nước ngoài 10 năm qua - đóng góp tích cực, nhưng còn nhiều hạn chế

12:00' AM - Thứ hai, 11/08/2003

Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1997 đến hết tháng 6/1998 đã cấp phép cho 2437 dự án, với số vốn đăng ký đạt 32,3 tỷ USD, điều chỉnh tăng vốn 3,86 tỷ USD; nâng tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng vốn bồ sung đạt 36,16 tỷ USD.

Trong số các dự án đã cấp phép, hiện còn 2009 dự án còn hiệu lực, với tổng số đăng ký là 33,4 tỷ USD.

Tính đến cuốn tháng 6 năm 1998, vốn đầu tư thực hiện là 3.322 tỷ USD, đạt0% vốn đăng ký; (nếu tính cả liên doanh dầu khí Việt Xô, thực hiện đạt 14,73 tỷ USD).

Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong 10 năm qua đã có những đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội trên một số mặt chủ yếu sau:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã bổ sung nguồn vốn  quan trọng cho tăng trưởng kinh tế.

Trong những năm bắt đầu công cuộc đổi mới, khi nguồn viện trợ nước ngoài bị cắt giảm độtngột và nguồn vốn đầu tư trong nước còn hạn chế thì chủ trương thu hút vốn FDI với việc ra đời Luật đầu tư nước ngoài 1987 là đúng đắn và kịp thời, đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển. Vốn FDI thời kỳ 1991-1995 chiếm bình quân 25,7% và từ năm 1995 đến nay chiếm gần 30% tổng vốn đầu tư xã hội đã góp phần đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế 8.5% trong thời kỳ 1991-1997 và điều quan trọng là nhờ nguồn vốn FDI, nhiều nguồn lực trong nước được khai thác và phát huy tác dụng.

- Tỷ lệ đóng góp của khu vực FDI trong GDP tăng dần qua các năm: năm 1992 là 2%, năm 1993 là 3,6%, năm 1996 là 8,6%, đến năm 1997 đã lên đến 8,6%; nếu tính cả xây dựng cơ bản và dịch vụ khác, tỷ lệ này đạt khoảng 10% GDP. Mặc dầu phần lớn các doanh nghiệp có vốn FDI đang trong thời gian miễn giảm thuế lợi tức và được miễn thuế nhập khẩu đối với vật tư, máy móc để tạo tài sản cố định, vật tư, nguyên liệu nhập để sản xuất hàng xuất khẩu, nhưng thu ngân sách từ các doanh nghiệp FDI tiếp tục tăng: năm 1994 đạt 128 triệu USD, năm 1995 đạt 195 triệu USD, năm 1996 đạt 263 triệu USD và năm 1997 đạt 315 triệu USD, chiếm khoange 6-7% tổng thu ngân sách hàng năm (nếu tính cả nguồn thu từ dầu khí, tỷ lệ này đạt trên 20%). 

Khu vực FDI đã cung cấp cho thị trường khối lượng hàng hóa lớn, nhất là những hàng thay thế hàng nhập khẩu như xi măng, sắt thép, điện tử, điện dân dụng, hàng tiêu dùng - góp phần bình ổn giá cả thị trường. Những năm gần đây, do chủ trương khuyến khích xuất khẩu nên kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI tăng nhanh: năm 1991 đạt 52 tnệu USD, năm 1995 đạt 440 triệu USD, năm 1996 đạt 786 triệu USD và năm 1997 đạt 1500 triệu USD, chiếm 17% kim ngạch xuất khẩu cả nước (chưa kể giá trị xuất khẩu dầu thô)

Nguồn vốn FDI góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát triển lực lượng sản xuất.

FDI đầu tư chủ yếu vào khu vực công nghiệp, xây dựng (48,5%) và dịch vụ (47,5%), góp phần nâng cao tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế. Đặc biệt, nhờ hoạt động FDI, nhiều ngành sản xuất quan trọng của nền kinh tế đã xuất hiện như thăm dò, khai thác dầu khí; lắp ráp, sản xuất ô tô, xe máy; phát triển viễn thông quốc tế và nội hạt - Hlện nay, khu vực FDI chiếm 100% về khai thác dầu thô; 53,8 cán thép; 24% xi măng. Trong công nghiệp điện tử, vốn FDI chlếm trên 50%: trong đó 100% về các sản phẩm như tụ điện, mạch in, máy thu băng, đầu video; 70% về đèn hình các loại. Trong công nghiệp dệt may, vốn FDI chiếm 100% về năng lực sản xuất sợi PE, PES; 55% năng lực kéo sợi; 39,3% năng lực may; 32% sản xuất giày dép. Ngoài ra, khu vực FDI còn chiếm 18% chế biến thực phẩm, 14% sản lượng hóa chất. Với năng suất lao động cao và khả năng tạo ra tới 25% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, với tốc độ tăng trưởng 21-24%/năm, khu vực FDI có tác động ngày càng lớn đến nền kinh tế.

- Khu vực FDI đã góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế. Nhiều công nghệ mới đã được nhập vào nước ta như thiết kế, chế tạo máy biến thế; dây chuyền tự động lắp ráp hàng điện tử, mạch điện tử, lắp ráp tổng đài điện thoại tự động kỹ thuật số, công nghệ sản xuất cáp điện, cáp thông tin - Nhìn chung, phần lớn các trong thiết bị là đồng bộ, có trình độ bằng hoặc cao hơn các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và thuộc loại phổ cập ở các nước công nghiệp trong khu vực. Các doanh nghiệp FDI đã tạo ra nhiều sản phẩm mới, kiểu dáng đẹp, chất lượng đạt tiêu chuẩn Việt Nam, một số đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Khu vực có vốn FDI đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực.

Đến nay, khu vực FDI đã thu hút khoảng 27 vạn lao động trực tiếp; nếu tính cả lao động gián tiếp (xây dựng, cung ứng dịch vụ) ước lên tới 35-40 vạn người với mức lương bình quân trên 70USD/tháng; ước tính thu thập của người lao động trong khu vực FDI hàng năm lên tới trên 300 triệu USD. Qua hợp tác đầu tư, người lao động Việt Nam có điều kiện được đào tạo nâng cao tay nghề, tiếp thu kỹ năng, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tác phong lao động công nghiệp.

Tuy nhiên, trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài còn có những tồn tại làm hạn chế khả năng thu hút và sử dụng vốn như sau:

1. Nhận thức quan điểm liên quan đến FDI còn chưa thống nhất

2. Hệ thống luật pháp, chính sách thiếu tính đồng bộ, chưa cụ thể nên chưa đảm bảo tính rõ ràng và dự đoán trước được...

3. Công tác quy hoạch còn chậm, chưa chuẩn xác, cơ cấu đầu tư còn có những bất hợp lý.

Công tác quản lý Nhà nước đối với FDI còn những mặt yếu kém, vừa buông lỏng, vừa gây phiền hà, can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

Việc cấp phép những năm đầu thiên về các dự án thay thế nhập khẩu tiêu thụ sản phẩm nội địa, tuy đã góp phần nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của hàng hóa, nhưng cũng có mặt dẫn đến chèn ép sản xuất một số sản phầm trong nước. Công tác quản lý nhà nước còn yếu kém nên đã tạo ra những khe hở đề các đối tác nước ngoài lợi dụng, nâng giá đầu vào và hạ giá đầu ra để thu lợi nhuận ngay từ nước ngoài (nhất là trong trường hợp mua bán với công ty mẹ), đưa thiết bị cũ lạc hậu vào Việt Nam, gian lận thương mại. Một số tập đoàn đa quốc gia bán phá giá sản phẩm, chi phí quảng cáo, tiếp thị và quản lý vượt quá xa mức quy định nhằm mục tiêu chiếm lĩnh thị phần, hạ đối thủ cạnh tranh, làm các đối tác Việt Nam trong liên doanh lâm vào tình trạng lỗ vốn trầm trọng, phải chấp nhận giải pháp nhượng lại cổ phần cho đối tác nước ngoài. Việc quản lý sau cấp giấy phép chậm được cải tiến, nhất là đất đai, xuất nhập khẩu, hải quan; thủ tục hành chính quá phiền hà, cửa quyền; các hành vi sách nhiễu, tiêu cực của một số viên chức nhà nước làm biến dạng chính sách, chủ trương của Nhà nước, làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài.

Cán bộ là yếu tố quyết định nhưng đang là khâu yếu nhất.

Hầu hết cán bộ Việt Nam cử sang làm việc trong các liên doanh đều chưa qua đào tạo, thiếu kiến thức chuyên môn, không nắm vững pháp luật và thương trường, không biết ngoại ngữ. Một số ít cán bộ chưa thấy hết trọng trách của mình trong vai trò đại diện chủ sở hữu nhà nước trong liên doanh, kém phẩm chất, thoái hóa, lo nghĩ trước hết đến thu nhập và lợi ích cá nhân.

BẮC HẢI

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,