


I. Thông tin trong nước
1. Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới
Thời gian qua, việc triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và công tác sắp xếp, bố trí cán bộ, công chức cấp xã tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được thực hiện nghiêm túc, đúng nguyên tắc của Đảng, quy định của Nhà nước. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã cơ bản được kiện toàn, từng bước thích ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới; năng lực lãnh đạo, điều hành được nâng lên; phương thức làm việc bước đầu đáp ứng mục tiêu kiến tạo, phát triển và phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn. Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển mới, chức năng của cấp cơ sở đang và tiếp tục mở rộng, đặt ra yêu cầu tăng trưởng cao, phát triển bền vững, đồng thời đòi hỏi đổi mới mạnh mẽ phương thức làm việc theo hướng chủ động, kiến tạo, phát triển. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, mang tính chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với năng lực quản trị, điều hành và thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước.
Thực hiện Thông báo số 21-TB/VPTW ngày 07/3/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương về giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, ngày 08/5/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 18/CT-TTg về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung, khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ sau:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố nghiêm túc quán triệt, triển khai quyết liệt, đồng bộ, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, các nghị quyết, kết luận, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác cán bộ. Quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương theo Thông báo số 21-TB/VPTW ngày 07/3/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng (thực hiện thường xuyên).
Khẩn trương chỉ đạo xây dựng kế hoạch, giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã phù hợp với đặc thù của địa bàn, vùng, miền, khu vực, đáp ứng yêu cầu linh hoạt trong tổ chức thực thi công vụ, hoàn thành trong tháng 5/2026.
Rà soát, đánh giá tổng thể chất lượng, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã; hoàn thiện tiêu chuẩn, tiêu chí theo yêu cầu vị trí việc làm được quy định tại các văn bản của Bộ Chính trị về công tác cán bộ, Luật Cán bộ, công chức, các Nghị định của Chính phủ và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, hoàn thành trong tháng 6/2026.
Tham mưu cấp ủy cùng cấp bố trí, sắp xếp cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã bảo đảm “đúng người, đúng việc, đúng thời điểm, đúng địa bàn” và phát huy năng lực thực tiễn, sở trường và kinh nghiệm công tác; triệt để phân công, điều động đối với các lãnh đạo, quản lý cấp phó đang vượt quy định của các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh, thành ủy, ủy ban nhân dân cấp tỉnh về cấp xã.
Ưu tiên bố trí cán bộ, công chức có bản lĩnh, khả năng chịu áp lực và kinh nghiệm xử lý tình huống về công tác tại các địa bàn phức tạp, khối lượng công việc lớn, nhất là các lĩnh vực đòi hỏi năng lực, trình độ chuyên môn chuyên sâu, như đất đai, xâydựng, dân tộc, tôn giáo, khiếu nại, tố cáo,... Kiên quyết không để xảy ra tình trạng phân công cán bộ, công chức không phù hợp với năng lực, sở trường công tác, hoàn thành trong Quý III/2026.
Tổ chức triển khai việc đánh giá chất lượng thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã trên cơ sở tiến độ, chất lượng xử lý công việc, năng lực phối hợp, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp; thực hiện tinh giản biên chế đối với những người năng lực yếu kém, thiếu tinh thần trách nhiệm, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ (thực hiện thường xuyên).
Thực hiện việc tuyển dụng để bổ sung nguồn nhân lực cho các cơ quan, đơn vị tại chính quyền địa phương cấp xã, ưu tiên người có tài năng và kinh nghiệm công tác đáp ứng ngay yêu cầu công việc (thực hiện thường xuyên).
Xây dựng kế hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã theo yêu cầu vị trí việc làm, gắn với thực tiễn của địa bàn. Chú trọng bồi dưỡng năng lực thực thi công vụ, năng lực phát triển, năng lực xử lý tình huống; tăng cường hướng dẫn tại chỗ. Thực hiện chế độ, chính sách và tạo điều kiện để cán bộ, công chức vừa học, vừa làm, bảo đảm không làm gián đoạn hoạt động của cơ quan, đơn vị (thực hiện thường xuyên).
Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp giai đoạn 2026 - 2031 (theo lộ trình của Đề án).
Nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ và trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã; siết chặt kỷ luật lao động, thực hiện nghiêm quy trình xử lý hồ sơ, thời hạn trả kết quả trên môi trường điện tử; ngăn chặn biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, chậm trễ trong giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp (thực hiện thường xuyên).
Bố trí kinh phí, đầu tư bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật, hạ tầng số, trang thiết bị làm việc của cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã theo quy định (thực hiện thường xuyên). Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tập trung hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; rà soát, đánh giá tính khả thi của việc phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương, đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các các quy định cho phù hợp, nhất là các nội dung phân cấp, phân quyền cho cấp xã, hoàn thành trong Quý II/2026.
Rà soát, đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính; ban hành các quy định, hướng dẫn về hồ sơ, quy trình nghiệp vụ, thủ tục hành chính, xử lý các tình huống... đã phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền cho cấp tỉnh, cấp xã, phù hợp với trình độ, năng lực cán bộ, công chức, yêu cầu thực tiễn khi vận hành tổ chức bộ máy mới, hoàn thành trong Quý 11/2026.
Tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu chuyên ngành bảo đảm liên thông, kết nối đồng bộ từ Trung ương đến cấp tỉnh, cấp xã; khẩn trương rà soát các hệ thống thông tin, phần mềm, ứng dụng thuộc phạm vi quản lý nhằm giải quyết dứt điểm những vấn đề tồn tại, vướng mắc bảo đảm thông suốt, đảm bảo yêu cầu người dùng (thực hiện thường xuyên).
Bộ Xây dựng tập trung xây dựng các chính sách nhà ở xã hội đối với cán bộ, công chức, viên chức có khó khăn về nhà ở, hoàn thành trong Quý III/2026.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương hướng dẫn, bố trí kinh phí bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị, chế độ, chính sách và kinh phí đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền địa phương cấp xã theo quy định (thực hiện thường xuyên)
Bộ Nội vụ hướng dẫn các hình thức đặc thù tuyển dụng để kịp thời bổ sung nguồn nhân lực cho cấp xã, hoàn thành trong Quý II/2026.
Hướng dẫn, đôn đốc, theo dõi các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp giai đoạn 2026 - 2031 (theo lộ trình của Đề án).
Xây dựng hệ thống học liệu số dùng chung toàn quốc cho cán bộ, công chức cấp xã trên nền tảng "Bình dân học vụ số", hoàn thành trong tháng 12/2026.
Phối hợp với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức cấp xã thuộc trách nhiệm quy định tại Nghị định số 171/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức và khoản 2 Mục VII Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp giai đoạn 2026 - 2031 (theo lộ trình của Đề án).
Theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương trong việc triển khai thực hiện Chỉ thị; tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện.
2. Một số nhiệm vụ quan trọng về phát triển kinh tế 5 năm 2026 - 2030
Tại Kết luận số 18-KL/TW, ngày 02/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số” đã đề ra một số nhiệm vụ phát triển kinh tế cần tập trung triển khai thực hiện, đó là:
Các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ, đảng viên nhận thức đầy đủ tầm quan trọng và yêu cầu chiến lược, cấp bách thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số” gắn với ổn định vĩ mô, nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân; xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, phải cụ thể hóa trong các chương trình, kế hoạch công tác hằng năm, có nhiệm vụ, kết quả, sản phẩm cụ thể cho từng ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương gắn với trách nhiệm người đứng đầu; kiểm tra, giám sát, đánh giá dựa trên tiêu chí kết quả thực hiện. Tăng cường tuyên truyền, vận động, hành động nêu gương để củng cố niềm tin, khát vọng phát triển của cộng đồng doanh nghiệp, người dân và toàn xã hội.
Xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật phù hợp để xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm" gắn với xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật và tăng cường kiểm tra, giám sát. Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, xây dựng tiêu chí đánh giá văn bản pháp luật sau khi ban hành, bảo đảm chuyển tư duy đánh giá hiệu quả pháp luật từ “tốt trong văn bản” sang “tốt trong cuộc sống”. Tiếp tục có giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương.
Khẩn trương tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách. Tập trung rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến phát triển nền kinh tế số, đầu tư kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, quy hoạch, thương mại, khoáng sản, xây dựng... góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; chuẩn hóa, số hóa toàn bộ quy trình giải quyết thủ tục trên môi trường số, liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan; rút ngắn tối đa thời gian, chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp. Phấn đấu môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028.
Đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức thực hiện, chú trọng giám sát và xử lý sau thanhtra, đẩy mạnh hơn nữa phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Kiên quyết, kịp thời thay thế cán bộ yếu kém, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm, không hoàn thành nhiệm vụ; khen thưởng, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức gắn với cơ cấu lại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới; phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa Trung ương - địa phương - doanh nghiệp - người dân; ban hành các chính sách đột phá, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Chuyển đổi sang mô hình tăng trường mới lấy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành kinh tế; thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống từ đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu và phát triển mạnh mẽ các ngành, lĩnh vực, mô hình kinh tế mới. Xây dựng và hiện đại hóa nền công nghiệp quốc gia vững mạnh; tập trung nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh một số ngành công nghiệp nền tảng như năng lượng, hạt nhân, cơ khí chế tạo, luyện kim, vận tải đường sắt, đóng tàu, vật liệu mới, hóa chất, công nghệ số, sinh học, công nghiệp phụ trợ gắn với tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững, giá trị gia tăng cao; tổ chức sản xuất kinh doanh theo chuỗi giá trị gắn với thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số; phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới.
Nghiên cứu đổi mới căn bản chính sách về hạn mức đất lúa theo hướng chuyển từ quy định cứng về diện tích tối thiểu sang quy định linh hoạt chuyển đổi diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả nhưng phải quản lý chặt chẽ việc chuyển đổi, tránh áp dụng tuỳ tiện, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Phát triển các ngành dịch vụ theo hướng hiện đại hóa hệ sinh thái dịch vụ, phát tri một số ngành, sản phẩm dịch vụ có lợi cạnh tranh, hàm lượng tri thức, công giá trị tăng cao. Đẩy nhanh xây dựng và hoàn thiện các chính sách phát triển các mô hình kinh tế mới. Phát triển mạnh các ngành kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên biển. Xây dựng kinh tế cửa khẩu hiện đại, đẩy mạnh thương mại biên giới, gắn với hạ tầng công nghệ, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Tạo đột phá phát triển các thành phần kinh tế gắn với triển khai hiệu quả các nghị quyết của Bộ Chính trị. Đổi mới kinh tế nhà nước, trọng tâm là quản trị doanh nghiệp nhà nước theo các chuẩn mực quốc tế, tăng cường hiệu quả và vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước trong một số lĩnh vực quan trọng; tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp, bảo đảm hiệu quả, không làm thất thoát, lãng phí. Phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ; có chính sách phù hợp, tạo môi trường mình bạch, thuận lợi, an toàn để doanh nghiệp tư nhân trong nước tiếp cận bình đẳng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Chú trọng phát triển các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp lớn có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu. Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư nước ngoài; đổi mới chính sách thu hút FDI theo hướng chuyển từ trọng tâm ưu đãi thuế sang các chính sách ưu đãi khác, áp dụng ưu đãi sau - ưu đãi theo kết quả; chú trọng thúc đẩy chuyển giao công nghệ, kết nối giữa khu vực FDI với khu vực trong nước; đầu tư hiệu quả ra nước ngoài.
Phát triển thị trường trong nước trở thành điểm tựa quan trọng cho tăng trưởng; chuyển dịch mạnh mẽ sang các loại hình phân phối hiện đại. Tổ chức các chương trình kích cầu tiêu dùng quy mô lớn, thực chất, hiệu quả. Phát triển hạ tầng du lịch, sản phẩm du lịch chất lượng cao, du lịch số; kết hợp thúc đẩy du lịch quốc tế với các dịch vụ về chăm sóc sức khoẻ, mua sắm hàng hóa. Mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, chuỗi cung ứng, tận dụng có hiệu quả các FTA đã ký kết, phát triển các thị trường mới; ưu tiên xuất khẩu các nhóm sản phẩm có giá trị gia tăng, đổi mới sáng tạo, tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG); tham gia sâu vào chuỗi cung ứng chiến lược của các nước.
Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, linh hoạt giữa chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác, bảo đảm cung ứng vốn cho nền kinh tế thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số" gắn với kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; kiên quyết không để xảy ra khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống. Giao Chính phủ chủ động điều chỉnh các loại thuế, phí trong trường hợp khẩn cấp.
Ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước làm kênh huy động vốn dài hạn, giảm sự phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng. Triển khai các giải pháp để nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, nâng hạng thị trường chứng khoán; ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do trong việc thu hút các dòng vốn đầu tư gián tiếp, các quỹ đầu tư quốc tế; phát triển đa dạng các loại hình nhà đầu tư tổ chức, phát triển thị trường tín chỉ các-bon và các sản phẩm, dịch vụ tài chính hiện đại theo thông lệ quốc tế; điều chỉnh hạn mức bảo lãnh phát hành trái phiếu của ngân hàng chính sách xã hội. Mở rộng tỉ lệ sở hữu nước ngoài tại các ngành nghề không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.
Hiện đại hóa hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng, đẩy mạnh việc xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, sở hữu chéo, nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng, giữ vững ổn định, an toàn hệ thống. Tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước từ các nguồn: Lợi nhuận sau thuế và trích lập các quỹ, phát hành cổ phiếu, ngân sách nhà nước,... theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế; phát triển lành mạnh và đa dạng hóa các nguồn vốn, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp trong nước, ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, kinh tế tập thể.
Khẩn trương hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với kết quả đầu ra và chấp nhận rủi ro có kiểm soát, trọng tâm là cơ chế quản lý, cơ chế tài chính, đầu tư, cơ chế cho các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ chiến lược. Tăng cường đầu tư, hoàn thiện và khai thác hiệu quả hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhất là hạ tầng số, cơ sở dữ liệu lớn. Tăng cường hợp tác công tư trong thu hút, đào tạo, trọng dụng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao. Xây dựng, kết nối và phát triển mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế. Hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách thu hút nhân tài, chuyên gia trong và ngoài nước.
Ưu tiên tiếp thu, chuyển giao, ứng dụng sáng tạo, làm chủ các công nghệ nền tảng, công nghệ tiên tiến, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, công nghệ nguồn, công nghệ số. Chú trọng nghiên cứu cơ bản, gắn với định hướng ứng dụng, làm chủ về công nghệ, nhất là những lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng và lợi thế. Có cơ chế, chính sách đột phá thúc đẩy chuyển đổi số gắn với bảo đảm an ninh, an toàn, khuyến khích đổi mới sáng tạo. Quản lý, thúc đẩy phát triển tài sản số, tiền kỹ thuật số lành mạnh và hiệu quả. Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội; phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo
3. Một số kết quả chủ yếu Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI
Sau 12 ngày làm việc (khai mạc ngày 06/4/2026 và bế mạc ngày 24/4/2026) khẩn trương, nghiêm túc với tinh thần khoa học, đổi mới, trách nhiệm cao, kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thành công tốt đẹp, hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Cụ thể là:
Về báo cáo kết quả tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 -2031 và kết quả xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội khóa XIV
Quốc hội khẳng định dưới sự lãnh đạo sâu sát, toàn diện của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, trực tiếp là đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm; sự chỉ đạo quyết liệt, khoa học, kịp thời, bài bản và sáng tạo của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Bầu cử quốc gia, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; cùng với sự vào cuộc đồng bộ, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức phụ trách bầu cử từ Trung ương đến địa phương, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã thành công rất tốt đẹp và bầu được 500 đại biểu Quốc hội, 2.552 đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp tỉnh và 72.440 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.
Các đại biểu được bầu bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng và có cơ cấu hợp lý; tỷ lệ đại biểu kiêm nhiệm làm việc trong các cơ quan hành pháp, tư pháp giảm, tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tăng; tỷ lệ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp trúng cử có trình độ chuyên n cao hơn so với nhiệm kỳ trước
Về công tác tổ chức, nhân sự
Quốc hội đã xem xét, thông qua 18 Nghị quyết về: số thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội (gồm 18 người); bầu Chủ tịch Quốc hội, 06 Phó Chủ tịch Quốc hội, 11 Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bầu Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, 07 Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Tổng Kiểm toán Nhà nước; bầu Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI (gồm 13 Bộ và 04 cơ quan ngang Bộ); quyết định cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI (gồm 24 thành viên); phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm 06 Phó Thủ tướng Chính phủ, 15 Bộ trưởng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng Thanh tra Chính phủ nhiệm kỳ 2026 - 2031; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về Phó Chủ tịch và Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh; phê chuẩn đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Sau khi được bầu, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã tuyên thệ trước Quốc hội, trước đồng bào, cử tri cả nước theo quy định của Hiến pháp, thể hiện rõ trách nhiệm, cam kết mạnh mẽ, quyết tâm cao hoàn thành trọng trách mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó, đáp ứng kỳ vọng của cử tri và Nhân dân.
Trong thời gian diễn ra Kỳ họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã xem xét, thông qua 230 Nghị quyết, trong đó có 16 Nghị quyết về số lượng và danh sách thành viên của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội; 124 Nghị quyết phê chuẩn Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Phó Chủ nhiệm Ủy ban, Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại các cơ quan của Quốc hội; 34 Nghị quyết phê chuẩn kết quả bầu Trưởng Đoàn; 52 Nghị quyết phê chuẩn kết quả bầu Phó Trưởng Đoàn chuyên trách, 01 Nghị quyết phê chuẩn kết quả bầu Phó Trưởng Đoàn kiêm nhiệm và 03 Nghị quyết phê chuẩn đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại địa phương. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã báo cáo Quốc hội về kết quả phê chuẩn Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Phó Chủ nhiệm Ủy ban, Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại các cơ quan của Quốc hội khóa XVI.
Về công tác Lập pháp
Quốc hội đã xem xét, thông qua 09 luật và 05 nghị quyết quy phạm pháp luật nhằm kịp thời thể chế hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và các kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Các chính sách được ban hành mang đậm tinh thần đổi mới và hành động quyết liệt để tập trung hoàn thiện thể chế trên các lĩnh vực, tháo gỡ những điểm nghẽn trong quá trình phát triển của đất nước.
Quốc hội đã xem xét, thông qua các luật, nghị quyết quan trọng như: Luật Hộ tịch, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chúng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều điều của Luật Trợ giúp pháp lý, Nghị quyết về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng, Luật Thủ đô (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, Nghị quyết về việc ban hành một số quy định về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay, Luật Tin ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam,...
Quốc hội cũng thông qua một số luật, nghị quyết khác, như: Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; Nghị quyết về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế; Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài;...
Về xem xét, quyết định các nội dung về kinh tế - xã hội và các vấn đề quan trọng khác của đất nước
Quốc hội đã xem xét, thông qua: Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030, Nghị quyết về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030, Nghị quyết về Kế hoạch tài chính 05 năm quốc gia và kế hoạch vay, trả nợ công giai đoạn 2026-2030, Nghị quyết bổ sung dự toán thu ngân sách nhà nước năm 2024 và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2024, Nghị quyết về Chương trình giám sát và Nghị quyết thành lập Đoàn giám sát của Quốc hội để tiến hành giám sát chuyên đề năm 2027, Nghị quyết về việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc trung ương....
Quốc hội đã xem xét, thông qua Nghị quyết Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, trong đó đã quyết nghị nhiều nội dung quan trọng, như: (i) Cho phép bổ sung nguồn cải cách tiền lương của ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương từ kinh phí tiết kiệm chi hỗ trợ hoạt động thường xuyên ngân sách nhà nước (chỉ từ lương và chi hoạt động theo quy định của pháp luật) năm 2025 do sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp; (ii) Đối với toàn bộ số kinh phí chưa sử dụng hết từ nguồn tiết kiệm 5% chi thường xuyên năm 2024 của ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo đã được chuyển nguồn sang năm 2025 theo Nghị quyết số 159/2024/QH15 của Quốc hội, cho phép chuyển nguồn sang năm 2026 để xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới đất liền. Giao Chính phủ tổ chức triển khai thực hiện.
Bên cạnh đó, Quốc hội đã tiến hành xem xét, thảo luận về các báo cáo: đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026; kết quả thực hiện công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025; tình hình thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2025; tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân gửi đến Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI; kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV,...
Đồng thời, tại Kỳ họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo, xin ý kiến đại biểu Quốc hội (bằng văn bản) về Kế hoạch triển khai Kết luận của Bộ Chính trị về Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI.
4. Phương hướng, nhiệm vụ của các địa phương quý II/2026
Ngày 24/4/2026, Ban Bí thư ban hành Kết luận số 27-KL/TW về tình hình chủ yếu của các địa phương quý I, phương hướng, nhiệm vụ quý II/2026; trong đó Ban Bí thư yêu cầu các tỉnh ủy, thành ủy tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
Các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đồng Tháp khẩn trương hoàn thành điều chỉnh, công bố Quy hoạch cấp tỉnh trong quý II/2026; Thành phố Hồ Chi Minh (đăng ký hoàn thành trong tháng 10/2026) và một số địa phương đề nghị đầy nhanh tiến độ, không để ảnh hưởng đến việc triển khai các dự án trọng điểm tại địa bàn.
Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo tăng cường hướng dẫn các địa phương thực hiện quy hoạch tỉnh, thành phố bảo đảm tính thống nhất với Quy hoạch quốc gia, quy hoạch ngành.
Ban Tổ chức Trung ương tham mưu tổ chức đánh giá, sơ kết 1 năm vận hành chính quyền 3 cấp để kịp thời tháo gỡ ngay những khó khăn, vướng mắc, nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã; tiếp tục tập trung phân công, điều động cán bộ cho cơ sở theo đúng tinh thần “năm nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở". Khẩn trương hoàn thành việc sắp xếp tổ dân phố, thôn, bản; sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập theo chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương.
Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo Chính phủ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số" theo kết luận của Trung ương, trong đó xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính.
Các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo xử lý dứt điểm các dự án có khó khăn, vướng mắc tại địa phương theo thẩm quyền, bảo đảm đúng tinh thần kết luận của Bộ Chính trị. Hoàn thành xử lý sắp xếp, sử dụng tài sản công, trụ sở dôi dư trong quý II/2026.
Quan tâm chăm lo đời sống Nhân dân, các đối tượng chính sách, người có công và công nhân lao động, nhất là dịp kỷ niệm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và Ngày Quốc tế lao động; tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế; chủ động ứng phó với thiên tai trong mùa mưa bão sắp tới.
Tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; đặc biệt lưu ý giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong nội bộ cơ quan, đơn vị, nhất là tại các địa phương sau sáp nhập, hợp nhất. Công tác kiểm tra, giám sát phải phát hiện sớm và kịp thời xử lý những biểu hiện mất đoàn kết nội bộ. Nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, sớm phát hiện những vấn đề nảy sinh ở địa phương,.
Một số kiến nghị, đề xuất về quản lý biên chính sách tiền lương, vị trí việc làm,....Cơ bản đã có trong chương trình công tác của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đề nghị Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan liên quan đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện.
Đối với kiến nghị của các địa phương thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương, giao Văn phòng Trung ương Đảng thông báo đến Chính phủ và các bộ, ngành có liên quan để chỉ đạo giải quyết ngay theo thẩm quyền, trường hợp chưa giải quyết được ngay phải thông báo cho địa phương biết.
Giao Văn phòng Trung ương Đảng tiếp thu ý kiến của Ban Bí thư để hoàn thiện Báo cáo; tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan đảng Trung ương theo dõi sát tình hình các địa phương, kịp thời báo cáo Ban Bí thư chỉ đạo xử lý những vấn đề liên quan theo thẩm quyền.
5. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
Ngày 11/4/2026, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Quy định số 21-QĐ/TW về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; trong đó nêu rõ nguyên tắc thi hành kỷ luật trong Đảng như sau:
Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm kỷ luật phải được xử lý công minh, chính xác, kịp thời; tất cả tổ chức đảng, đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, nếu vi phạm đến mức phải kỷ luật đều phải xử lý kỷ luật nghiêm minh. Đảng viên vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết, không được xử lý nội bộ. Nếu làm thất thoát tài chính, tài sản của Đảng, Nhà nước, của tổ chức, cá nhân thì phải xem xét trách nhiệm và bồi hoàn. Đảng viên sau khi chuyển sinh hoạt đảng sang tổ chức đảng mới hoặc tổ chức đảng kết thúc hoạt động hoặc do chia tách, sáp nhập, nếu phát hiện hoặc bị tố cáo có vi phạm ở nơi sinh hoạt đảng trước đây mà chưa được xem xét, xử lý thì do tổ chức đảng cấp trên của các tổ chức đảng nơi quản lý đảng viên trước đây và hiện nay xem xét, xử lý hoặc biao tổ chức đảng cấp dưới xem xét, xử lý, chỉ đạo xem xét, xử lý theo thẩm quyền.
Việc thi hành kỷ luật phải căn cứ nội dung, mức độ, tính chất, tác hại, ảnh hưởng, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ để xem xét, quyết định cho phù hợp và phải chịu trách nhiệm về quyết định đó. Kỷ luật đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể hoặc việc xử lý bằng pháp luật và ngược lại (trừ trường hợp có quy định khác). Tổ chức đảng sau khi xem xét, xử lý hoặc chỉ đạo việc xem xét, xử lý về kỷ luật đảng, chậm nhất 5 ngày phải chỉ đạo hoặc đề nghị với các tổ chức có trách nhiệm xem xét, xử lý kỷ luật về hành chính, đoàn thể hoặc xử lý hình sự cho đồng bộ, kịp thời.
Khi các tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đình chỉ công tác hoặc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, hội viên, đoàn viên là đảng viên (kể cả quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật về hành chính của các cấp chính quyền hoặc bản án, quyết định của tòa án) thì chậm nhất 5 ngày phải chủ động thông báo cho tổ chức đảng quản lý đảng viên đó để xem xét, xử lý luật đảng. Sau khi giải quyết khiếu nại kỷ luật về Đảng, nếu có thay đổi hình thức kỷ luật thì tổ chức đảng có thẩm quyền chỉ đạo việc xem xét lại hình thức kỷ luật về hành chính, đoàn thể.
Đối với đảng viên là cấp ủy viên các cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp ủy các cấp quản lý đã nghỉ hưu, từ chức, miễn nhiệm hoặc cho thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc đã chuyển công tác khác, nếu phát hiện có vi phạm khi đang công tác thì thẩm quyền thi hành kỷ luật của các tổ chức đảng được thực hiện như đang đương chức. Đảng viên vi phạm đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi hoặc đảng viên là nam giới (trong trường hợp vợ chết hoặc vì lý do khách quan, bất khả kháng khác) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi; đảng viên bị bệnh nặng thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật. Trường hợp đảng viên vì phạm đã qua đời, tổ chức đảng xem xét, không xử lý kỷ luật, trừ trường hợp có vì phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Tổ chức đảng quyết định kỷ luật oan, sai đối với tổ chức đảng, đảng viên phải thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định đó, đồng thời tự phê bình, kiểm điểm, rút kinh nghiệm; nếu vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên xem xét, quyết định. Đảng viên chính thức vi phạm nghiêm trọng đến mức phải khai trừ thì phải kỷ luật khai trừ, không áp dụng biện pháp xóa tên, không chấp nhận việc xin ra khỏi Đảng. Đảng viên dự bị vi phạm đến mức phải kỷ luật thì kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo, khi hết thời hạn dự bị, chi bộ vẫn tiến hành xét công nhận đảng viên chính thức. Nếu vi phạm đến mức không còn đủ tư cách đảng viên thì xóa tên trong danh sách đảng viên.
Khi kỷ luật một tổ chức đảng phải xem xét trách nhiệm, xử lý kỷ luật đối với những đảng viên vi phạm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu tổ chức đảng. Tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan phải được xin lỗi và phục hồi quyền lợi. Việc xin lỗi và phục hồi quyền lợi thực hiện theo quy định của Bộ Chính trị. Các hình thức kỷ luật của Đảng: Đối với tổ chức đảng: Khiển trách, cảnh cáo, giải tán. Đối với đảng viên chính thức: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức (nếu có chức vụ), khai trừ. Đối với đảng viên dự bị: Khiển trách, cảnh cáo.
6. Tập trung phát triển, ứng dụng hiệu quả công nghệ sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thời gian qua, các bộ, ngành, địa phương đã có nhiều cố gắng trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 30/1/2023 của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới và Nghị quyết số 189/NQ-CP ngày 16/11/2023 của Chính phủ ban hành kèm theo Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị; nhận thức về vai trò của công nghệ sinh học đã được nâng lên; công nghệ sinh học nước ta đã có bước phát triển nhanh, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, bước đầu hình thành các mô hình ứng dụng công nghệ sinh học hiệu quả trong các lĩnh vực như: nông nghiệp, y tế, môi trường. Tuy nhiên, công tác tổ chức thực hiện, tiến độ triển khai các nhiệm vụ được giao còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất trong phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học và phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, tại Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 21/4/2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:
Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, đề cao trách nhiệm người đứng đầu; tổ chức triển khai đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp phát triển công nghệ sinh học theo chức năng, nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 189/NQ-CP của Chính phủ. Khẩn trương rà soát toàn bộ nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 189/NQ-CP của Chính phủ bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn sau sáp nhập bộ, ngành, địa phương cũng như các Luật, Nghị định đã được ban hành và có hiệu lực. Rà soát, khẩn trương hoàn thành các nhiệm vụ chậm tiến độ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Định kỳ rà soát, đánh giá, công khai kết quả thực hiện; kịp thời biểu dương tập thể, cá nhân thực hiện tốt; xử lý nghiêm các trường hợp chậm triển khai, không hoàn thành nhiệm vụ. Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghệ sinh học là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của bộ, ngành, địa phương và người đứng đầu.
Phát triển công nghệ sinh học phải được đặt trong tổng thể triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi ốc gia; ưu tiên nguồn lực nhà nước 7 cho nghiên cứu, ứng dụng và phát các công nghệ lõi, công nghệ chiến sản phẩm chủ lực quốc gia trong lĩnh vực công nghệ sinh học, nhiệm vụ có khả năng tạo đột phá và lan tỏa lớn; nhiệm vụ phục vụ quốc phòng, an ninh; khuyến khích mạnh mẽ khu vực tư nhân đầu tư vào công nghiệp sinh học; phát triển công nghiệp sinh học lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, công thương thành ngành kinh tế - kỹ thuật.
Khẩn trương rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách vượt trội và các mô hình thí điểm áp dụng các cơ chế, chính sách mới/vượt trội để tạo đột phá phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ trong một số lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế, sản phẩm sinh học thân thiện với môi trường. Xây dựng và tổ chức triển khai các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia về công nghệ sinh học; tập trung công nghệ cao, công nghệ lõi, công nghệ chiến lược sản phẩm chủ lực lĩnh vực công nghệ sinh học theo yêu cầu tại Nghị quyết số 57-NQ/TW. Ưu tiên đặt hàng các nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển công nghệ sinh học có khả năng tạo đột phá, gắn với nhu cầu của thị trường và doanh nghiệp; đẩy mạnh hợp tác công - tư (PPP) để hình thành các trung tâm nghiên cứu - phát triển công nghệ sinh học quy mô lớn, từng bước nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, đổi mới sáng tạo trong nước. Triển khai thống kê, đánh giá tỷ trọng đóng góp của công nghệ sinh học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm công nghệ sinh học; tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, phát triển tài sản trí tuệ và khai thác thông tin sáng chế phục vụ hoạt động nghiên cứu, phát triển và đổi mới công nghệ trong lĩnh vực công nghệ sinh học.
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thiện Đề án phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu, định hướng tại Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tập trung nghiên cứu, ứng dụng công nghệ Bình học chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản có năng suất, chất lượng cao, thích ứng với biến đổi khí hậu và phù hợp với điều kiện sinh thái Việt Nam; các vắc xin và chế phẩm học phòng bệnh cho vật nuôi, cây trồng; bảo tồn, phát triển các nguồn gen bản địa, nguồn gen đặc hữu và hình thành cơ sở dữ liệu, ngân hàng nguồn gen phục vụ nghiên cứu và phát triển bền vững. Nghiên cứu, hình thành các vùng, cụm, khu nông nghiệp công nghệ sinh học và công nghiệp sinh học quy mô lớn, gắn với chuỗi giá trị từ nghiên cứu - sản xuất - chế biến - thương mại hóa sản phẩm, hiệu quả, đủ sức cạnh tranh và xuất khẩu. Phát triển công nghệ sinh học trong xử lý môi trường, tái chế phụ phẩm nông nghiệp, phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn và bền vững. Triển khai xây dựng mạng lưới quản lý và kiểm định an toàn sinh học trong cả nước.
Phê duyệt, triển khai Đề án phát triển công nghiệp sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật lĩnh vực công thương theo thẩm quyền, đảm bảo đúng chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Thúc đẩy hình thành và phát triển chuỗi giá trị công nghiệp sinh học từ nghiên cứu, sản xuất, thương mại hóa, gắn với hệ sinh thải doanh nghiệp công nghệ sinh học; khuyến khích các doanh nghiệp lớn đầu tư đổi mới công nghệ, làm chủ các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược lĩnh vực công nghệ sinh học và phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Hỗ trợ đăng ký thương hiệu sản phẩm, phát triển thị trường và mở rộng xuất khẩu đối với các sản phẩm ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực công thương có lợi thế cạnh tranh của Việt Nam.
Đẩy mạnh phát triển công nghiệp sinh học trong lĩnh vực y tế; đẩy nhanh lộ trình tự chủ công nghệ sản xuất vắc xin thế hệ mới, thuốc sinh học, sinh phẩm y tế, công nghệ gen, công nghệ tế bào, công nghệ in 3D cá thể hóa... nhằm giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nước ngoài. Nghiên cứu, chuyển giao, từng bước tự chủ và ứng dụng công nghệ tiên tiến, mở rộng hợp tác quốc tế nhằm nâng cao năng lực dự phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh, công nghệ sản phẩm sinh học y tế. Đầu tư nâng cao năng lực kiểm định, thử nghiệm, quản lý chất lượng các sản phẩm sinh học y tế và đảm bảo an toàn sinh học. Đổi mới chương trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ sinh học. Gắn đào tạo với nhu cầu doanh nghiệp, phát triển mô hình hợp tác “3 Nhà” (Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp) thực chất, hiệu quả; tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo chuyên gia, nhà khoa học; thúc đẩy các chương trình hỗ trợ trao đổi giao lưu nghiên cứu sinh, nhà khoa học trong lĩnh vực công nghệ sinh học.
Đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các sản phẩm công nghệ sinh học đặc thù phục vụ quốc phòng, an ninh sinh học trong tình hình mới. Chủ động nâng cao năng lực phòng ngừa, phát hiện, ứng phó với các tình huống khủng bố bằng tác nhân sinh học, chiến tranh sử dụng vũ khí sinh học; tăng cường năng lực phòng, chống tội phạm về đa dạng sinh học, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Bố trí kinh phí trong dự toán ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ, chương trình trọng điểm. Phối hợp xây dựng, đề xuất cơ chế, chính sách vượt trội để tạo đột phá phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học; báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Khẩn trương hoàn thiện, trình cấp thẩm quyền phê duyệt Đề án nghiên cứu các khoa học cơ bản và phát triển công nghệ nền tảng của công nghệ sinh học đặc thù cho Việt Nam đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, góp phần tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo tinh thần của Nghị quyết số 36-NQ/TW
7. Kế hoạch tổ chức sơ kết 01 năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp
Kế hoạch tổ chức sơ kết 01 năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp được ban hành bởi Quyết định số 706/QĐ-TTg ngày 21/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ, nêu rõ một số nội dung cần tập trung đánh giá, như sau:
Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện, đánh giá việc quán triệt, nâng cao nhận thức trong toàn hệ thống chính trị và định hướng dư luận xã hội đối với việc sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành chính quyền địa phương 02 cấp. Việc ban hành các văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các văn bản lành đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước liên quan đến công tác sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và vận hành chính quyền địa phương 02 cấp. Đặc biệt là công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức triển khai thực hiện của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và các địa phương; vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu; cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành trong tổ chức thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và vận hành chính quyền địa phương 02 cấp.
Về thực hiện chức năng, nhiệm vụ và phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, rà soát, đánh giá việc phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương cấp tỉnh và cấp xã khi tổ chức mô hình chính quyền địa phương 02 cấp theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương; đánh giá tính khả thi của các nhiệm vụ, thẩm quyền thuộc ngành, lĩnh vực quản lý của các bộ, cơ quan ngang bộ đã phân cấp, phân quyền từ trung ương xuống địa phương; những vướng mắc, khó khăn khi thực hiện các nhiệm vụ, thẩm quyền được phân cấp, phân quyền từ trung ương đề nghị tiếp tục tháo gỡ, ban hành văn bản hướng dẫn. Đánh giá nhiệm vụ, nội dung cấp tỉnh phân cấp, ủy quyền cho cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp xã gắn với cải cách thủ tục hành chính.
Về tổ chức bộ máy và nhân sự, đánh giá tình hình, kết quả sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thẩm quyền quản lý của các bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là việc điều chỉnh các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ công (như Ban Quản lý, các trung tâm,...); việc kiện toàn cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp xã và Trung tâm phục vụ hành chính công các cấp. Trong đó, chú trọng đánh giá mức độ hiệu quả hoạt động, sự phù hợp trong quy định về chức năng, nhiệm vụ sau khi sắp xếp; những khó khăn, vướng mắc và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức này. Đánh giá tổng thể việc bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức sau sáp nhập đơn vị sự nghiệp, sắp xếp đơn vị hành chính các cấp, đặc biệt là hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tại cấp xã sau sắp xếp, trọng tâm là đánh giá mức độ phù hợp giữa vị trí việc làm với trình độ, năng lực của cán bộ, công chức, viên chức, những khó khăn, vướng mắc và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ này trong quá trình vận hành chính quyền địa phương 02 cấp; đánh giá tình hình bố dụng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã làm nhiệm vụ hỗ trợ cho hoạt động của hệ thống chính trị tại đơn vị hành chính cấp xã mới từ ngày 01/7/2025 đến nay.
Đánh giá mức độ hiệu lực, hiệu quả vận hành của tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện chức năng quản trị, kiến tạo phát triển và phục vụ Nhân dân, nhất là trong việc cung ứng dịch vụ công; trong đó làm rõ mức độ thông suốt, liên thông trong xử lý công việc giữa các cấp, các cơ quan; chất lượng, tiến độ giải quyết thủ tục hành chính; mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp; khả năng thích ứng của bộ máy và đội ngũ sau sắp xếp; những vấn đề đặt ra cần tiếp tục hoàn thiện để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương.
Về thủ tục hành chính, đánh giá việc tiên khai Hệ thống thông tin giải quyết thủ tự hành chính, việc kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia, VNeID, thanh toán điện tử; tỷ lệ cấu hình thủ tục hành chính, mức độ liên thông, hoạt động của Cổng Dịch vụ công quốc gia. Tình hình tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính theo các mức độ và kết quả đánh giá mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục hành chính và cung ứng dịch vụ công. Đề xuất nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới.
Về bảo đảm nguồn lực tài chính hoạt động của chính quyền cấp xã, đánh giá việc phân bổ dự toán ngân sách nhà nước cho chính quyền cấp xã sau sắp xếp, trong đó làm rõ nguyên tắc, tiêu chí, mức độ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao; khả năng đáp ứng yêu cầu hoạt động thường xuyên và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; những khó khăn, bất cập trong quá trình phân bổ và tổ chức thực hiện. Đánh giá tình hình thực hiện thu, chi ngân sách của chính quyền cấp xã; mức độ chủ động trong quản lý, điều hành ngân sách; hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính; việc bảo đảm cân đối ngân sách, chấp hành kỷ luật, kỷ cương tài chính; những khó khăn,trí, sử dụng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã làm nhiệm vụ hỗ trợ cho hoạt động của hệ thống chính trị tại đơn vị hành chính cấp xã mới từ ngày 01/7/2025 đến nay.
Đánh giá mức độ hiệu lực, hiệu quả vận hành của tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện chức năng quản trị, kiến tạo phát triển và phục vụ Nhân dân, nhất là trong việc cung ứng dịch vụ công; trong đó làm rõ mức độ thông suốt, liên thông trong xử lý công việc giữa các cấp, các cơ quan; chất lượng, tiến độ giải quyết thủ tục hành chính; mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp; khả năng thích ứng của bộ máy và đội ngũ sau sắp xếp; những vấn đề đặt ra cần tiếp tục hoàn thiện để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương.
Về thủ tục hành chính, đánh giá việc toán khai Hệ thống thông tin giải quyết thủ (ực Hành chính, việc kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia, VNeID, thanh toán điện tử; tỷ lệ cấu hình thủ tục hành chính, mức độ liên thông, hoạt động của Cổng Dịch vụ công quốc gia. Tình hình tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính theo các mức độ và kết quả đánh giá mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục hành chính và cung ứng dịch vụ công. Đề xuất nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới.
Về bảo đảm nguồn lực tài chính hoạt động của chính quyền cấp xã, đánh giá việc phân bổ dự toán ngân sách nhà nước cho chính quyền cấp xã sau sắp xếp, trong đó làm rõ nguyên tắc, tiêu chí, mức độ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao; khả năng đáp ứng yêu cầu hoạt động thường xuyên và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; những khó khăn, bất cập trong quá trình phân bổ và tổ chức thực hiện. Đánh giá tình hình thực hiện thu, chi ngân sách của chính quyền cấp xã; mức độ chủ động trong quản lý, điều hành ngân sách; hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính; việc bảo đảm cân đối ngân sách, chấp hành kỷ luật, kỷ cương tài chính; những khó khăn, vướng mắc phát sinh và kiến nghị, đề xuất. Đánh giá nhu cầu và đề xuất cơ chế, chính sách tài chính đặc thù đối với chính quyền cấp xã sau sắp xếp, nhất là các địa bàn có quy mô lớn, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc phát sinh nhiệm vụ mới; trong đó làm rõ yêu cầu về định mức phân bổ, cơ chế tự chủ và các giải pháp bảo đảm nguồn lực ổn định, lâu dài cho hoạt động của chính quyền cấp xã.
Về cơ sở vật chất, hỗ trợ nhà ở, trang thiết bị, tài sản công, đánh giá tổng thể về việc xử lý, sử dụng cơ sở nhà đất, trang thiết bị, tài sản công; các điều kiện đảm bảo vận hành chính quyền địa phương 02 cấp, bao gồm cơ sở vật chất, trụ sở làm việc, phòng họp trực tuyến, trang thiết bị làm việc; các chính sách hỗ trợ về đi lại, nhà ở đối với công chức, viên chức sau khi thực hiện sắp xếp. Về giải quyết tài sản công dôi dư (trụ sở, đất đai, trang thiết bị với số lượng, tỷ lệ cụ thể).
Về hạ tầng công nghệ, chuyển đổi số, đánh giá mức độ chuyển đổi số của bộ, ngành, địa phương; đánh giá hạ tầng công nghệ thông tin, mức độ triển khai chuyển đổi số đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 02 cấp; trong đó làm rõ mức độ đồng bộ, liên thông hệ thống thông tin giữa các cấp; khả năng đáp ứng trong giải quyết thủ tục hành chính, cung ứng dịch vụ công trực tuyến; mức độ tiếp cận, sử dụng dịch vụ số của người dân, doanh nghiệp; kỹ năng số của cán bộ, công chức cấp xã; những khó khăn, vướng mắc, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp và nhu cầu đầu tư, nâng cấp trong thời gian tới. Đánh giá việc hình thành dữ liệu dùng chung, khả năng khai thác dữ liệu phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành chuyên môn, nghiệp vụ, triển khai Kiến trúc Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước và hiệu quả ứng dụng khi vận hành chính quyền địa phương 02 cấp tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Về số hóa, chỉnh lý tài liệu lưu trữ, đánh giá công tác số hóa, chỉnh lý, quản lý hồsơ, tài liệu lưu trữ; trong đó làm rõ khối lượng, tiến độ số hóa, mức độ hoàn thiện việc chỉnh lý hồ sơ, tài liệu sau sắp xếp đơn vị hành chính; việc tổ chức quản lý, khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ công tác quản lý, điều hành và giải quyết thủ tục hành chính; mức độ bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin; những khó khăn, vướng mắc và nhu cầu về nguồn lực, hạ tầng, giải pháp trong thời gian tới.
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ của bộ, ngành địa phương, trên cơ sở kết quả đánh giá theo các nội dung nêu trên cần làm rõ nhiệm vụ, giải pháp cơ bản thực hiện trong thời gian tới. Ban Chỉ đạo Trung ương tổ chức sơ kết trước ngày 20/6/2026.
8. Phát động thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế -xã hội hằng năm và Kế hoạch 5 năm (2026 - 2030) theo Nghị quyết Đại dội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
Trong những năm qua, phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng đã được tổ chức thực hiện có hiệu quả, phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước và sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, cổ vũ, động viên các cấp, các ngành, các tầng lớp Nhân dân vượt qua nhiều khó khăn, thử thách và đã đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực, góp phần thực hiện thành công nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và giai đoạn 2021 - 2025. Nhằm phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của phong trào thi đua yêu nước góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và Kế hoạch 5 năm (2026-2030) theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tại Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 23/4/2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:
Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiếp tục quán triệt, triển khai, tuyên truyền và tổ chức thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng; quán triệt sâu sắc tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chỉ thị số 41-CT/TW ngày 26/12/2024 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thi đua, khen thưởng trong tình hình mới”, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong nhận thức, tư tưởng và tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu và Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp, làm cho thi đua thực sự trở thành ý thức tự giác, trách nhiệm và thường xuyên của mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi đơn vị, cá nhân, tạo thành cao trào hành động cách mạng, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự hào dân tộc, tạo động lực góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Tổ chức các phong trào thi đua thiết thực, hiệu quả, bám sát nội dung định hướng, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và chủ đề “Thi đua đổi mới, sáng tạo, tăng tốc bút phá đưa đất nước vào kỷ nguyên phát triển hùng cường, văn minh, thịnh vượng" được phát động tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI. Quán triệt các quan điểm chỉ đạo theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; tập trung cụ thể hóa và thực hiện tốt các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu 5 năm 2026 - 2030, 12 định hướng phát triển đất nước, 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược, quyết tâm phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát đã đề ra: Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; đến năm 2030 trở thành nước phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức tổ chức các phong trào thi đua, với hình thức phong phú, đa dạng, nội dung cụ thể, thiết thực, bám sát nhiệm vụ chính trị được giao, tập trung thi đua thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, trọng tâm của Đảng, Nhà nước, của từng bộ, ngành, địa phương, gắn với mục tiêu cụ thể, lấy kết quả phục vụ Nhân dân làm thước đo. Thi đua vận hành hiệu quả hệ thống chính trị theo hướng tình, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; thi đua đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; thi đua xây dựng đồng bộ thể chế phát sản, trọng tâm là hệ thống pháp luật, ccc chính sách nhằm tháo gỡ kịp thời, dứt các nút thắt, điểm nghẽn; thi đua xây không nền hành chính chuyên nghiệp, liêm chính, hiện đại; thi đua phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả; nâng cao chất lượng doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia; thi đua phát triển văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân; thi đua củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; thi đua đẩy mạnh công tác đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước. Phong trào thi đua phải phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, các vùng miền, địa phương, hướng về cơ sở, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; coi trọng người lao động trực tiếp và lực lượng tuyến đầu. Thi đua phải phát triển mạnh mẽ trong Nhân dân, đến từng cơ quan, đơn vị, tập thể, cá nhân, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của bộ, ngành, địa phương và cả nước. Thường xuyên quan tâm phát hiện, bồi dưỡng các nhân tố, điển hình mới, tuyên truyền, nhân rộng điển hình tiên tiến; khuyến khích, tạo điều kiện để các điểnhình tiên tiến tiếp tục phát huy, lan tỏa, nêu gương người tốt, việc tốt, tạo động lực thúc đẩy, cổ vũ các phong trào thi đua. Các bộ, ngành, địa phương có kế hoạch cụ thể để bồi dưỡng, xây dựng các mô hình mới, nhân tố mới trong từng năm, cả giai đoạn, được thực hiện từ cơ sở và đồng bộ tốt cả bốn khâu: Phát hiện - bồi dưỡng - tổng kết - nhân điển hình tiên tiến. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phát hiện, biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân, hộ gia đình đạt thành tích tiêu biểu xuất sắc, có tác động tích cực, lan tỏa trong đời sống xã hội.
Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác khen thưởng, bảo đảm khen thưởng kịp thời, đúng người, đúng việc, đúng thành tích, có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương. Tăng cường khen thưởng thông qua việc chủ động phát hiện các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc. Quan tâm khen thưởng cơ sở, tập thể nhỏ, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số và miền núi; tập thể, cá nhân trực tiếp công tác, lao động, chiến đấu, thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt, bí mật; cá nhân có nhiều đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, dũng cảm cứu người, cứu tài sản. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính trong công tác khen thưởng.
Nâng cao vai trò trách nhiệm của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng; đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của cụm, khối thi đua. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số vào công tác thi đua, khen thưởng, bảo đảm công khai, minh bạch và cải cách thủ tục hành chính. Bố trí, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ công chức làm công tác thi đua, khen thưởng có phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có kiến thức, kinh nghiệm, gắn bó với quần chúng và phong trào thi đua. Đồng thời, tiếp tục củng cố tổ chức, bộ máy ổn định, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đây là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng công tác tham mưu và hiệu quả tổ chức triển khai các phong trào thi đua, công tác khen thưởng trong phạm vi cả nước. Chỉ thị cũng nêu rõ trách nhiệm cụ thể của Bộ Nội vụ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban và cơ quan của Đảng ở trung ương, các tổ chức chính trị - xã hội căn cứ chức năng, nhiệm vụ và tổ chức phát động, triển khai có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước.
9. Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn 2026- 2030, định hướng đến năm 2035.
Đề án “Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035" được phê duyệt bởi Quyết định số 470/QĐ-TTg ngày 24/3/2026 nêu rõ mục tiêu phấn đấu như sau:
Tiếp tục nâng cao tỷ lệ, số lượng, chất lượng, bảo đảm cơ cấu hợp lý đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, nhất là các cơ quan, đơn vị thực hiện chức năng, nhiệm vụ về công tác dân tộc, các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có đủ phẩm chất, uy tín, năng lực, trình độ, chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; góp phần củng cố hệ thống chính trị cơ sở và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước nói chung và tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng. Gắn mục tiêu phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số với mục tiêu giảm nghèo đa chiều bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thông qua phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ tại cơ sở.
Phấn đấu từ năm 2026 đến năm 2030 đạt 80% và từ năm 2030 đến năm 2035 đạt 100% các tỷ lệ sau đây: Ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Tối thiểu là 3% đến 5% tổng số biên chế được giao của cấp tỉnh đối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 5% đến dưới 10% tổng dân số của tỉnh. Tối thiểu là 5% đến 10% tổng số biên chế được giao của cấp tỉnh đối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 10% đến dưới 30% tổng dân số của tỉnh. Tối thiểu là 10% đến 15% tổng số biên chế được giao của cấp tỉnh đối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 30% đến dưới 50% tổng dân số của tỉnh. Tối thiểu là 15% đến 20% tổng số biên chế được giao của cấp tỉnh đối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 50% đến dưới 70% tổng dân số của tỉnh. Tối thiểu là 20% tổng số biên chế được giao của cấp tỉnh đối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số trên 70% tổng dân của tỉnh.
Ở xã, phường, đặc khu: Tối thiểu là 5% tông số biên chế được giao của cấp xã đối với xã có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 5% đến dưới 10% tổng dân số của xã. Tối thiểu là 5% đến 15% tổng số biên chế được giao của cấp xã đối với xã có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 10% đến dưới 30% tổng dân số của xã. Tối thiểu là 15% đến 25% tổng số biên chế được giao của cấp xã đối với xã có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 30% đến dưới 50% tổng dân số của xã. Tối thiểu là 25% đến 35% tổng số biên chế được giao của cấp xã đối với xã có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 50% đến dưới 70% tổng dân số của xã. Tối thiểu là 35% đến 50% tổng số biên chế được giao của cấp xã đối với xã có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm trên 70% tổng dân số của xã.
Ở cơ quan, đơn vị thực hiện chức năng, nhiệm vụ về công tác dân tộc: Bộ Dân tộc và Tôn giáo tối thiểu là 20% đến 25% trên tổng số biên chế được giao. Các Vụ, ban hoặc tổ chức, đơn vị tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng, nhiệm vụ về công tác dân tộc tối thiểu là 25% tổng số biên chế được giao. Ban Dân tộc của Hội đồng nhân dân tỉnh, Sở Dân tộc và Tôn giáo: Tối thiểu là 20% tổng số thành viên Ban Dân tộc của Hội đồng nhân dân tỉnh; tối thiểu 20% tổng biên chế được giao của Sở Dân tộc và Tôn giáo đối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 5% đến dưới 10% tổng dân số của tình. Tối thiểu là 25% tổng số thành viên Ban Dân tộc của Hội đồng nhân dân tỉnh; tối thiểu 25% tổng biên chế được giao của Sở Dân tộc và Tôn giáo đối với tình có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 10% đến dưới 30% tổng dân số của tỉnh. Tối thiểu là 30% tổng số thành viên Ban Dân tộc của Hội đồng nhân dân tỉnh; tối thiểu 30% tổng biên chế được giao của Sở Dân tộc và Tôn giáo cối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu SALốn từ 30% đến dưới 50% tổng dân số của kìm. Tối thiểu là 35% tổng số thành viên Ban Dân tộc của Hội đồng nhân dân tỉnh; tối thiểu 35% tổng biên chế được giao của Sở Dân tộc và Tôn giáo đối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm từ 50% đến dưới 70% tổng dân số của tỉnh. Tối thiểu là 40% tổng số thành viên Ban Dân tộc của Hội đồng nhân dân tỉnh; tối thiểu 40% tổng biên chế được giao của Sở Dân tộc và Tôn giáo đối với tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số trên 70% tổng dân số của tỉnh. Trường hợp không có Ban Dân tộc thuộc Hội đồng nhân dân tỉnh, Sở Dân tộc và Tôn giáo thì cấp có thẩm quyền ở địa phương căn cứ vào tình hình thực tế quyết định tỷ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số tại các cơ quan, đơn vị được giao thực hiện chức năng, nhiệm vụ về công tác dân tộc. Ban và Phòng chuyên môn thực hiện chức năng, nhiệm vụ về công tác dân tộc thuộc Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã ưu tiên bố trí cán bộ người dân tộc thiểu số thực hiện nhiệm vụ về công tác dân tộc.
Thực hiện theo lộ trình phấn đấu từ năm 2026 đến năm 2030 đạt 80% và từ năm 2030 đến năm 2035 đạt 100% các mục tiêu cụ thể sau đây: Bảo đảm cơ cấu cán bộ người dân tộc thiểu số tương ứng với tỷ lệ người dân tộc thiểu số trong tổng dân số của tỉnh; phù hợp với cơ cấu của các thành phần dân tộc thiểu số ở địa phương. Bảo đảm cơ cấu hợp lý cán bộ người dân tộc thiểu số giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp: Bộ Dân tộc và Tôn giáo tối thiểu là 20% đến 25% trên tổng số chức danh lãnh đạo, quản lý. Vụ, ban hoặc tổ chức, đơn vị tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ban Dân tộc của Hội đồng nhân dân tỉnh, Sở Dân tộc và Tôn giáo phải có ít nhất 01 vị trí giữ chức danh cấp trưởng hoặc cấp phó hoặc 01 vị trí được quy hoạch hoặc giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý là người dân tộc thiểu số.
Ở địa phương: Tối thiểu là 10% ở cấp tỉnh, trên tổng số cán bộ người dân tộc thiểu số của tỉnh. Tối thiểu là 20% ở cấp xã trên tổng số cán bộ người dân tộc thiểu số của xã. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập ở địa phương có từ 30% cán bộ người dân tộc thiểu số trở lên phải bảo đảm có viên chức quản lý người dân tộc thiểu số. Bảo đảm cơ cấu cán bộ nữ người dân tộc thiểu số tối thiểu là 20% trong tổng số tỷ lệ tối thiểu cán bộ người dân tộc thiểu số quy định tại khoản 2 và điểm b khoản 3 Mục II này.
Phấn đấu từ năm 2026 đến năm 2030 đạt 80% và từ năm 2030 đến năm 2035 đạt 100% số cán bộ người dân tộc thiểu số được đào tạo, bồi dưỡng về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị; kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, kỹ năng số và phương thức quản lý hiện đại, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia; bồi dưỡng về tin học, ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm theo quy định.
Tỷ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân thực hiện theo quy định của cấp có thẩm quyền.
II. Thông tin thế giới
Một số sự kiện thế giới đáng chú ý
1. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa:
Trước việc vừa qua, Trung Quốc ban bố lệnh cấm đánh bắt cá từ ngày 01/5/2026 đến ngày 16/8/2026 tại một số khu vực ở Biển Đông, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh: “Lập trường của Việt Nam đối với lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc ở Biển Đông là nhất quán, đã được khẳng định rõ ràng
trong những năm qua. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa phù hợp với luật pháp quốc tế, cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển được xác lập phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), tôn trọng quyền của ngư dân Việt Nam hoạt động hợp pháp trong các vùng biển của Việt Nam và các vùng biển ngoài quyền tài phán quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, không có các hành động làm phức tạp tình hình, đóng góp cho việc duy trì hòa bình, ổn định, trật tự trên biển dựa trên luật lệ ở Biển Đông".
2. Cảnh giác nguy cơ từ virus Hanta trên du thuyền MV Hondius: Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) gần đây xác nhận 6 trường hợp nhiễm virus Hanta trong ổ dịch trên du thuyền MV Hondius treo cờ Hà Lan, trong đó có 3 ca tử vong. Đáng chú ý, các ca bệnh đều liên quan đến biến thể Andes chủng virus Hanta hiếm hoi có khả năng lây truyền từ người sang người khi tiếp xúc gần và kéo dài.
Theo WHO, nguy cơ lây lan ra cộng đồng toàn cầu hiện ở mức thấp, song sự việc tiếp tục làm dấy lên lo ngại về các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có nguồn gốc từ động vật. Virus Hanta tồn tại chủ yếu ở các loài gặm nhấm và lây sang người qua bụi, thực phẩm hoặc môi trường nhiễm chất thải của chuột. Một số chủng có thể gây hội chứng phổi cấp tính với tỷ lệ tử vong rất cao, riêng đợt bùng phát trên MV Hondius hiện ghi nhận tỷ lệ tử vong khoảng 38%.
Giới chuyên gia nhận định khả năng hình thành ổ dịch lớn trong cộng đồng là không cao, bởi virus này không lây lan mạnh qua đường hô hấp như cúm hay Covid-19. Tuy nhiên, trong điều kiện không gian kín, mật độ tiếp xúc lớn như trên tàu biển, nguy cơ lây nhiễm vẫn cần được theo dõi chặt chẽ.
Trước diễn biến mới, nhiều quốc gia đã tăng cường các biện pháp giám sát dịch tễ, kiểm soát chuột và vệ sinh môi trường. Đến nay, chưa có vaccine hay thuốc điều trị đặc hiệu đối với virus Hanta, việc điều trị chủ yếu dựa vào hồi sức tích cực và hỗ trợ hô hấp.
3. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế ngăn chặn tội phạm buôn bán thuốc giả: Tổ chức Cảnh sát hình sự Quốc tế (Interpol) ngày 07/5/2026 cho biết đã phối hợp triển khai chiến dịch truy quét toàn cầu nhằm vào hoạt động buôn bán dược phẩm bất hợp pháp tại 90 quốc gia và vùng lãnh thổ, triệt phá 66 nhóm tội phạm và bắt giữ 269 đối tượng.
Trong chiến dịch kéo dài từ ngày 10 - 23/3/2026, các cơ quan thực thi pháp luật đã mở 392 cuộc điều tra, thực hiện 158 lệnh khám xét nhằm vào các mạng lưới phân phối sản phẩm y tế giả mạo, chưa được cấp phép hoặc kém chất lượng. Kết quả, hơn 6,4 triệu liều thuốc giả và thuốc chưa được cấp phép, trị giá khoảng 15,5 triệu USD, đã bị thu giữ. Các sản phẩm bị thu giữ nhiều gồm thuốc điều trị rối loạn cương dương, thuốc an thần, giảm đau, kháng sinh và sản phẩm hỗ trợ cai thuốc lá.
Ngoài ra, khoảng 5.700 website, trang mạng xã hội, kênh và bot tự động liên quan đến hoạt động quảng bá, buôn bán dược phẩm bất hợp pháp đã bị vô hiệu hóa. Interpol cảnh báo xu hướng gia tăng mạnh việc buôn bán thuốc chống ký sinh trùng như Ivermectin và Fenbendazol dưới danh nghĩa hỗ trợ điều trị ung thư, bất chấp cảnh báo từ các cơ quan y tế.
Tổng Thư ký Interpol Valdecy Urquiza nhấn mạnh thuốc giả không chỉ là hành vi lừa đảo mà còn đe dọa trực tiếp đến tính mạng người sử dụng. Theo ông, các nhóm tội phạm đang lợi dụng chợ trực tuyến và chuỗi cung ứng phi chính thức để tiếp cận người bệnh có nhu cầu tìm kiếm phương pháp điều trị nhanh, giá rẻ.
III. Thông tin Tập đoàn
1. Vinachem tổ chức Hội nghị tổng kết 01 năm VinachemMart và ra mắt nền tảng Vinachem Nông nghiệp
Chiều 18/5/2026, tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế (Hà Nội), Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) tổ chức Hội nghị sơ kết 01 năm hoạt động Sàn thương mại điện tử VinachemMart và ra mắt nền tảng Vinachem Nông nghiệp.
Tham dự chương trình có ông Cao Anh Tuấn – Thứ trưởng Bộ Tài chính; ông Phan Như Nguyện – Phó Chủ tịch Thường trực Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; bà Nguyễn Thu Lan – Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Bộ Tài chính; ông Phùng Mạnh Ngọc – Cục trưởng Cục Hóa chất, Bộ Công Thương; cùng các đại diện Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, lãnh đạo Báo Nông nghiệp và Môi trường; đại diện Học viện Nông nghiệp Việt Nam; các ban bộ ngành cùng nhiều chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp, đại lý và nông dân tiêu biểu trên cả nước.
Phát biểu khai mạc Hội nghị, ông Nguyễn Hữu Tú nhấn mạnh hành trình xanh hóa và chuyển đổi số của Vinachem không chỉ là yêu cầu tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn là chiến lược dài hạn nhằm phát triển bền vững và hội nhập cùng xu thế phát triển mới. Theo ông, VinachemMart và Vinachem Nông nghiệp không phải những nền tảng riêng lẻ mà là bước đi chiến lược để mở rộng không gian thị trường, tăng cường kết nối với người tiêu dùng và từng bước hình thành hệ sinh thái số của Vinachem.
Ra mắt từ tháng 5/2025, VinachemMart được chính Vinachem tự thiết kế, xây dựng và trực tiếp vận hành theo đặc thù ngành hóa chất. Sau một năm hoạt động, nền tảng đã ghi nhận doanh thu đạt 51,5 tỷ đồng, hơn 52.040 tài khoản đăng ký và trên 25.000 đơn hàng giao thành công.
Không chỉ là kênh phân phối sản phẩm, VinachemMart đang từng bước hình thành hệ sinh thái thương mại điện tử chuyên biệt đầu tiên của ngành hóa chất Việt Nam, kết nối doanh nghiệp, người tiêu dùng và dữ liệu thị trường trên cùng một nền tảng thống nhất.
Tại chương trình, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam cũng tổ chức biểu dương, khen thưởng các tập thể có thành tích tiêu biểu trong quá trình xây dựng và vận hành VinachemMart, ghi nhận những nỗ lực của các đơn vị tiên phong trong chuyển đổi số và phát triển mô hình kinh doanh mới.
Ra mắt Vinachem Nông nghiệp: Đồng hành cùng nông dân bằng tri thức và khoa học công nghệ
Điểm nhấn đặc biệt của Hội nghị là lễ ra mắt nền tảng Vinachem Nông nghiệp – mô hình được Vinachem xây dựng theo định hướng phi lợi nhuận nhằm hỗ trợ người nông dân tiếp cận tri thức khoa học, kỹ thuật canh tác và thông tin nông nghiệp chính thống.
Khác với các nền tảng thương mại thông thường, Vinachem Nông nghiệp được xây dựng như không gian mở kết nối nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp, cơ quan báo chí và người nông dân nhằm lan tỏa tri thức, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất và thúc đẩy nông nghiệp xanh, hiện đại, bền vững.
Trong khuôn khổ chương trình, Vinachem đã công bố đội ngũ chuyên gia đồng hành cùng nền tảng gồm nhiều nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành như PGS.TS Lê Quốc Thanh – Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia; PGS.TS Nguyễn Văn Bộ; PGS.TS Cao Việt Hà; TS Nguyễn Đức Huy; ông Võ Tòng Anh… Đồng thời, đại diện các đơn vị thành viên của Vinachem cũng thực hiện nghi thức ký kết chương trình phối hợp về cung cấp thông tin, tài liệu và phát triển nội dung phục vụ nền tảng Vinachem Nông nghiệp giai đoạn 2026 – 2030.
Đặc biệt, tại Hội nghị, Vinachem đã ký kết hợp tác với Báo Nông nghiệp và Môi trường nhằm tăng cường phối hợp truyền thông, chia sẻ tri thức, phát triển nội dung và lan tỏa các giải pháp nông nghiệp hiệu quả tới cộng đồng người sản xuất trên cả nước.
Khép lại chương trình là nghi thức bấm nút chính thức ra mắt nền tảng Vinachem Nông nghiệp với sự tham gia của lãnh đạo các bộ, ngành, chuyên gia và lãnh đạo Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, đánh dấu bước khởi đầu cho một mô hình kết nối tri thức và hỗ trợ nông nghiệp trên nền tảng số.
Việc đồng thời tổng kết 01 năm VinachemMart và ra mắt Vinachem Nông nghiệp cho thấy chiến lược chuyển đổi số của Vinachem đang được triển khai theo hướng đồng bộ, từ sản xuất, thương mại đến phục vụ nông nghiệp và cộng đồng. Không chỉ xây dựng nền tảng thương mại điện tử chuyên ngành, Vinachem đang từng bước mở rộng vai trò của mình từ nhà sản xuất sang đơn vị kết nối công nghệ, tri thức và dữ liệu để đồng hành cùng người dân và nền nông nghiệp Việt Nam trên hành trình phát triển xanh, hiện đại và bền vững.
2. Đảng ủy VINACHEM tham gia Hội nghị cập nhật kiến thức, quy định mới của pháp luật và bồi dưỡng nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát
Trong 2 ngày 27, 28/5, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương tổ chức Hội nghị để cập nhật kiến thức, quy định mới của pháp luật trong lĩnh vực tổ chức, cán bộ, khoa học và công nghệ, tài chính, ngân sách, đầu tư, đấu thầu, đất đai, tài nguyên, môi trường và bồi dưỡng nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát.
Trong thời gian 1,5 ngày làm việc, Hội nghị đã tập trung cập nhật nhiều nội dung quan trọng liên quan đến các quy định pháp luật mới trong lĩnh vực tổ chức, cán bộ, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tài chính, ngân sách, đầu tư, đấu thầu, quản lý đất đai, tài nguyên và bảo vệ môi trường; đồng thời bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát cho đội ngũ cán bộ ngành Kiểm tra Đảng.
Tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghe các báo cáo viên truyền đạt 6 chuyên đề quan trọng gồm: Chuyên đề 1: “Những điểm mới đáng chú ý của quy định pháp luật trong công tác tổ chức, cán bộ”; Chuyên đề 2: “Những vấn đề mới về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”; Chuyên đề 3: “Những điểm mới trong quy định pháp luật về quản lý ngân sách nhà nước, tài chính công, tài sản công, đầu tư công, đấu thầu và cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập”; Chuyên đề 4: “Những điểm mới trong quy định pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai; khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường”; Chuyên đề 5: “Giám sát các nghị quyết trụ cột của Trung ương và xây dựng hồ sơ địa bàn”; Chuyên đề 6: “Chuyển đổi số và một số phần mềm công tác kiểm tra, giám sát đang triển khai trong ngành Kiểm tra Đảng”.
Thông qua Hội nghị, đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng bộ VINACHEM đã được cập nhật kịp thời các chủ trương, chính sách, quy định mới của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đồng thời nâng cao kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ, góp phần triển khai đồng bộ, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát trong toàn Đảng bộ Tập đoàn thời gian tới.
3. Vinachem tham dự diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam- Thái Lan
Chiều 28/5 tại Bawngkok (Thái lan), đoàn công tác của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) do ông Phùng Quang Hiệp – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn dẫn đầu đã tham dự diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam – Thái Lan trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Vương quốc Thái Lan của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam.
Tham gia đoàn công tác của Vinachem còn có lãnh đạo các đơn vị thành viên: LIX, Casumina, Phân bón Miền Nam, DAP số 2- Vinachem cùng đại diện các Ban chuyên môn của Tập đoàn.
Diễn đàn diễn ra trong bối cảnh quan hệ Việt Nam – Thái Lan vừa được nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện, hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa 2 nước vào năm 2026.
Đây là dịp để các doanh nghiệp hai nước thúc đẩy hợp tác đầu tư, thương mại, logistics, chuyển đổi số, công nghệ xanh và kết nối chuỗi cung ứng.
Thông qua diễn đàn, Vinachem có thêm cơ hội tăng cường kết nối với các đối tác khu vực trong các lĩnh vực hóa chất, nguyên liệu công nghiệp, logistics, hóa chất phục vụ nông nghiệp công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ; góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng sự hiện diện của doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị ASEAN.
4. Vinachem làm việc với Tập đoàn Hateco về cung ứng sản phẩm cao su kỹ thuật cho Cảng Liên Chiểu
Chiều 29/5, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) đã có buổi làm việc với Tập đoàn Hateco về việc cung ứng các sản phẩm cao su kỹ thuật phục vụ Dự án bến cảng container Liên Chiểu tại thành phố Đà Nẵng.
Tại buổi làm việc, hai bên đã trao đổi về khả năng hợp tác trong việc cung ứng các sản phẩm cao su kỹ thuật phục vụ Dự án bến cảng container Liên Chiểu – một trong những dự án hạ tầng cảng biển trọng điểm của khu vực miền Trung. Dự án được quy hoạch với quy mô lớn, hướng tới trở thành trung tâm logistics và cảng biển hiện đại của khu vực, góp phần nâng cao năng lực thông quan hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế biển và kết nối chuỗi cung ứng quốc tế.
Tập đoàn Hateco là doanh nghiệp hoạt động đa ngành với nhiều dấu ấn trong lĩnh vực logistics, hạ tầng và cảng biển. Những năm gần đây, Hateco đẩy mạnh đầu tư vào các dự án cảng biển quy mô lớn, hiện đại, trong đó có Dự án bến cảng container Liên Chiểu tại Đà Nẵng với kỳ vọng trở thành đầu mối giao thương quan trọng của khu vực miền Trung và hành lang kinh tế Đông – Tây.
ại buổi làm việc, ông Lê Hoàng Khánh Nhựt – Tổng Giám đốc DRC đã giới thiệu năng lực sản xuất, kinh nghiệm cũng như các dòng sản phẩm cao su kỹ thuật phục vụ lĩnh vực cầu cảng, hàng hải và công nghiệp nặng. Là doanh nghiệp có hơn 50 năm truyền thống trong ngành săm lốp cao su thuộc Vinachem, DRC hiện sở hữu hệ thống sản xuất hiện đại cùng đội ngũ kỹ thuật giàu kinh nghiệm, đáp ứng yêu cầu khắt khe của nhiều công trình hạ tầng trọng điểm trong và ngoài nước.
Đặc biệt, DRC có thế mạnh trong sản xuất các sản phẩm cao su kỹ thuật chuyên dụng dành cho cầu cảng như đệm chống va, gối cao su và các cấu kiện cao su kỹ thuật phục vụ bến cảng, công trình biển. Các sản phẩm được sản xuất theo tiêu chuẩn kỹ thuật cao, bảo đảm độ bền, khả năng chịu tải và thích ứng với môi trường khai thác đặc thù của cảng biển.
Phát biểu tại buổi làm việc, lãnh đạo hai bên đánh giá cao tiềm năng hợp tác giữa Vinachem và Hateco trong thời gian tới. Việc sử dụng các sản phẩm cao su kỹ thuật do doanh nghiệp trong nước sản xuất không chỉ góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa tại các dự án hạ tầng lớn mà còn khẳng định năng lực của doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam trong việc tham gia các công trình hiện đại, quy mô lớn.
5. Vinachem thiết lập hợp tác chiến lược với DSM- Fimenich dưới sự chứng kiến của Tổng Bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm
Chiều 29/5, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Singapore của Đoàn lãnh đạo cấp cao Việt Nam do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dẫn đầu, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam và DSM- Fimenich đã trao đổi biên bản ghi nhớ hợp tác chiến lược (MOU) tại diễn đàn Kết nối công nghệ Việt Nam- Singapore.
Theo nội dung hợp tác, hai bên sẽ tập trung phát triển các dòng hương liệu công nghệ cao phục vụ sản xuất chất tẩy rửa, mỹ phẩm và sản phẩm chăm sóc cá nhân; đồng thời phối hợp nghiên cứu, tư vấn giải pháp công nghệ mới và nâng cao trải nghiệm người tiêu dùng.
Sự kiện tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong của Vinachem trong đổi mới công nghệ, hội nhập quốc tế, chuyển đổi xanh và phát triển các ngành công nghiệp nền tảng; hướng tới mục tiêu trở thành doanh nghiệp hóa chất hàng đầu khu vực ASEAN.
Đây cũng là bước đi cụ thể góp phần hiện thực hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và xây dựng doanh nghiệp nhà nước có năng lực dẫn dắt, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
5. Một số kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 5 tháng đầu năm 2026 của Tập đoàn
Kết quả sản xuất kinh doanh tháng 5 năm 2026 của toàn Tập đoàn ghi nhận kết quả tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm 2025. Nhóm sản phẩm phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt, đóng góp lớn vào tổng doanh thu. Nhóm sản phẩm hóa chất cơ bản, khí công nghiệp, chất tẩy rửa và pin ắc quy có tốc độ tăng trưởng tốt. Các nhóm ngành còn lại ghi nhận kết quả ổn định và đóng góp tích cực vào kết quả chung toàn Tập đoàn.
- Trong tháng 5 năm 2026, Tập đoàn đã triển khai hiệu quả các chương trình làm việc, cụ thể như sau: (1) Tổ chức thành công Hội nghị sơ kết 01 năm hoạt động của sàn thương mại điện tử Vinachemmart và ra mắt nền tảng Vinachem Nông nghiệp; (2) Hoàn thành công tác tổ chức Hội nghị đại biểu người lao động tại tất cả các đơn vị thành viên; (3) Năng lực sản xuất của các đơn vị thành viên trong toàn Tập đoàn được tăng cường. Ngày 08/5/2026, Công ty cổ phần Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao đã khánh thành dây chuyền sản xuất Kali Sulphat (SOP) với công suất 20.000 tấn/năm, đây là sự kiện đánh dấu bước đột phá công nghệ giúp Tập đoàn hiện thực hóa mô hình kinh tế tuần hoàn, đồng thời góp phần xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam xanh và nâng tầm giá trị nông sản xuất khẩu; (4) Một số đơn vị thành viên trong Tập đoàn đã tổ chức thành công Lễ kỷ niệm ngày thành lập, thể hiện bề dày truyền thống, sự phát triển lớn mạnh của các đơn vị thành viên nói riêng và của cả Tập đoàn nói chung; (5) Tham gia các hoạt động trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước tới Ấn Độ và Sri Lanka của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Nhân dịp này, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đã vinh dự được giao thực hiện nhiệm vụ trực tiếp chuẩn bị và vận chuyển 100 tấn supe phốt phát và ure – quà tặng của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam tới Chính phủ và nhân dân Sri Lanka; (6) Tham gia các hoạt động trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước tới 03 nước: Thái Lan – Singapore và Phillippine của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; (7) Trên cơ sở chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền, Tập đoàn đã đạt được những bước chuyển biến quan trọng, tích cực đối với việc thành lập pháp nhân mới để tái cơ cấu chủ đầu tư Dự án khai thác và chế biến muối mỏ Kali tại Lào; (8) Đã tích cực triển khai các công việc cần thiết cho việc thành lập Trung tâm Nghiên cứu - Phát triển (R&D) và hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm của Tập đoàn; (9) Các đồng chí Lãnh đạo Tập đoàn, đại diện các Ban đã tham gia tích cực, đầy đủ và hiệu quả các chương trình công tác được tổ chức.
- Tổng doanh thu tháng 5 năm 2026 ước đạt 6.214 tỷ đồng; lũy kế 5 tháng ước đạt 33.816 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2025 và đạt 48% kế hoạch năm 2026.
- Lợi nhuận trước thuế tháng 5 năm 2026 cộng hợp toàn Tập đoàn ước đạt 605 tỷ đồng; lũy kế 5 tháng ước đạt 2.652 tỷ đồng, tăng 56% so với cùng kỳ năm 2025 và đạt 90% kế hoạch năm 2026.
- Trước diễn biến khó lường của tình hình địa chính trị thế giới, sự biến động của chuỗi cung ứng toàn cầu và sự cạnh tranh thương mại ngày càng gay gắt giữa các quốc gia, các đơn vị trong Tập đoàn đã chủ động điều tiết sản xuất và tiêu thụ, quản trị sản xuất và đẩy mạnh các giải pháp thị trường, duy trì sản lượng sản xuất, sản lượng tồn kho hợp lý để kịp thời thích ứng với biến động thực tiễn.
6. Công tác xây dựng Đảng trong 5 tháng đầu năm 2026
Trong 5 tháng đầu năm 2026, công tác xây dựng Đảng luôn được Đảng ủy Tập đoàn chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo triển khai có hiệu quả trên các mặt công tác:
Quý 5 tháng đầu năm 2026, bám sát sự chỉ đạo của Trung ương, Đảng ủy Chính phủ và Đảng ủy Bộ Tài chính, Đảng ủy Tập đoàn đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy trực thuộc triển khai thực hiện các nhiệm vụ chính trị theo các văn bản chỉ đạo của cấp trên trong toàn Đảng bộ. Trong đó, trọng tâm là các Hội nghị học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, qua đó góp phần nâng cao nhận thức chính trị, thống nhất ý chí và hành động trong cán bộ, đảng viên và người lao động.
Thực hiện Quyết định 176- QĐ/ĐU ngày 25/02/2026 của Đảng ủy Chính phủ về thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở đối với Đảng ủy Tập đoàn, Đảng ủy Tập đoàn đã Ban hành các quyết định kiện toàn: Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; Ban Chỉ đạo “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, Ban Chỉ đạo 35 Đảng ủy Tập đoàn; Kiện toàn Đội ngũ Cộng tác viên Dư luận xã hội…
Các cấp ủy trực thuộc tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, Nghị quyết số 70-NQ/TW, Nghị quyết số 71-NQ/TW, Nghị quyết số 72-NQ/TW; Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa… Thông qua việc quán triệt và triển khai thực hiện các Nghị quyết trên, các cấp ủy đã nâng cao nhận thức về hội nhập quốc tế, từ đó chỉ đạo các đơn vị chủ động thúc đẩy các hoạt động hợp tác, liên kết, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập và phát triển./.
BAN TUYÊN GIÁO ĐẢNG ỦY TẬP ĐOÀN


