Công nghiệp Hóa chất đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện phát triển cho nền kinh tế ở các nước trên thế giới. Các sản phẩm tiên tiến ngày nay như điện thoại thông minh, pin quang điện, đèn LED,... chỉ có thể được sản xuất nhờ sự đóng góp của ngành hóa chất. Tại Ấn Độ, CNHC chiếm vị trí then chốt trong việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản cũng như cải thiện chất lượng cuộc sống. Tuy không có nhiều nguồn nguyên liệu hydrocacbon truyền thống, nhưng ấn Độ có ngành lọc dầu phát triển mạnh, cung cấp một số nguyên liệu hóa chất cơ bản cho ngành hóa chất.
Công nghiệp Hóa chất là một trong những trụ cột chính của quá trình phát triển công nghiệp và nông nghiệp ở Ấn Độ, cung cấp nguyên liệu và các sản phẩm phụ trợ cho các ngành sản xuất cuối dòng như dệt may, vải, sơn, chất tẩy rửa, dược phẩm,... Ngành sản xuất phân bón và nông hóa hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, giúp đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước. Tương tự, ngành sản xuất sợi tổng hợp góp phần cung cấp các sản phẩm may mặc với giá vừa phải, ngành sản xuất dược phẩm cho phép người dân ở đất nước đông dân này tiếp cận nhiều loại dược phẩm với giá cả phải chăng.
Trong thời gian 2014-2015, CNHC Ấn Độ đạt giá trị 137 tỷ USD, doanh số hóa chất và sản phẩm hóa chất đạt 147 tỷ USD, trong đó hóa chất lượng lớn, các sản phẩm hóa dầu và hóa chất chuyên dụng chiếm 65% tổng doanh số hóa chất.
Nhưng mặc dù có quy mô lớn và đóng góp lớn vào GDP của đất nước, CNHC Ấn Độ chỉ chiếm 3% thị trường hóa chất toàn cầu với tổng giá trị 4,3 nghìn tỷ USD.
Nếu không tính dược phẩm, Ấn Độ đứng thứ 14 trên thế giới về xuất khẩu và đứng thứ 8 về nhập khẩu hóa chất.
Xuất khẩu của CNHC Ấn Độ chiếm khoảng 10% tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu của cả nước. Tỷ lệ này duy trì tương đối ổn định trong 4 năm qua. Tuy đạt thặng dư thương mại trong một số hạng mục như dược phẩm, các sản phẩm nông hóa, thuốc nhuộm và bột màu, nhưng Ấn Độ vẫn tiếp tục là nước nhập khẩu ròng hóa chất.
Nguồn cung nguyên liệu
Naphta. Ấn Độ không có nhiều khả năng tiếp cận các nguồn khí thiên nhiên rẻ tiền như Trung Đông và Bắc Mỹ. Tình hình này ít có khả năng thay đổi, vì khí hóa lỏng nhập khẩu luôn luôn phải chịu chi phí thao tác và chi phí vận chuyển cao. Tuy nhiên, Ấn Độ có công suất lọc dầu dư thừa so với nhu cầu trong nước và hiện đang xuất khẩu những lượng lớn naphta. Sau khi trở thành nước xuất khẩu ròng naphta, lượng naphta xuất khẩu của Ấn Độ đã tăng gần như hàng năm kể từ năm 2009 và dự kiến sẽ tiếp tục tăng khi các nhà máy lọc dầu mới đang được xây dựng. Năm 2015, xuất khẩu naphta đạt gần 7 triệu tấn, đủ để cung ứng cho ít nhất hai nhà máy crăcking etylen với quy mô thế giới.
Sinh khối. Nhờ nền nông nghiệp mạnh, ấn Độ có lợi thế trong việc sử dụng nguồn nguyên liệu sinh khối. Sinh khối mía đường là loại sinh khối phát triển mạnh nhất và sẵn có ở những lượng lớn. Nguyên liệu này được chế biến thành xenluloza, hemixenluloza và lignin, cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành khác.
Các công ty nhà nước và công ty tư nhân đã phát triển các công nghệ etanol thế hệ hai, đồng thời thiết lập các dự án pilot. Các nhà máy etanol quy mô thương mại có thể được đưa vào vận hành trong 2 năm tới.
Ấn Độ có nguồn cung sinh khối dư thừa khoảng 600 triệu tấn, với tốc độ tăng trưởng trung bình 10 triệu tấn/ha/năm. Những công nghệ chuyển hóa sinh khối cơ bản là methanol hóa sinh khối, nhiệt phân, khí hóa. ứng dụng của metan sinh học chỉ hạn chế ở ngành giao thông và trong nấu ăn của các hộ gia đình. Trong khi đó, các sản phẩm nhiệt phân cần phải được chế biến tiếp bằng quá trình tinh chế sinh học và khí hóa bằng phản ứng Fischer-Tropsch.
Các lĩnh vực sản xuất hóa chất
Hóa dầu
Các sản phẩm hóa dầu đóng vai trò quan trọng trong hầu hết tất cả các lĩnh vực kinh tế như nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, chăm sóc sức khỏe, dệt may, hàng tiêu dùng. Hơn 70% người dân Ấn Độ đang ở độ tuổi dưới 40 và phần lớn nằm trong tầng lớp lao động, đây là động lực lớn cho thị trường hàng hóa và dịch vụ trong nhiều năm tới.
Theo Hiệp hội Các nhà sản xuất hóa chất và hóa dầu Ấn Độ, nhu cầu các sản phẩm hóa dầu tại Ấn Độ trong năm tài chính 2014-2015 đạt 32 triệu tấn và tăng lên 35 triệu tấn trong năm tài chính 2015-2016 (tăng 11%/năm). ước tính, nhu cầu các sản phẩm hóa dầu đạt 41 triệu tấn trong năm tài chính 2017-2018.
Công suất hóa dầu của ấn Độ hiện nay tương đương Hàn Quốc và Trung Quốc cách đây 15 năm. Mặc dù lượng tiêu thụ tăng theo dự kiến với tốc độ gấp 1,2-1,5 lần tốc độ tăng trưởng GDP, đến năm 2025 ngành công nghiệp hóa dầu của Ấn Độ cũng sẽ chỉ lớn hơn Hàn Quốc không nhiều và chỉ bằng 1/4 của Trung Quốc.
Hóa chất tinh khiết và hóa chất chuyên dụng
Ấn Độ hiện chiếm 30-80% công suất toàn cầu đối với một số hóa chất tinh khiết và hóa chất chuyên dụng. Một số công ty Ấn Độ đang giữ vị trí hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất này.
Tuy nhiên, thị trường hóa chất chuyên dụng của Ấn Độ vẫn còn rất non trẻ, với tổng giá trị ước đạt khoảng 20 tỷ USD. Trong số 1000 công ty hóa chất chuyên dụng tại đây, phần lớn là các công ty trong nước, chỉ có một số ít công ty quốc tế quy mô lớn.
Trong khi CNHC Ấn Độ tăng trưởng với tốc độ 10-12%/năm, ngành sản xuất hóa chất chuyên dụng đã tăng trưởng với tốc độ khoảng 14%.
Dược phẩm
Ngành sản xuất dược phẩm của Ấn Độ được xem như một câu chuyện thành công trên toàn cầu và quá trình phát triển công nghệ trong ngành vẫn đang tiếp diễn. Tuy nhiên, sản xuất dược phẩm của ấn Độ phụ thuộc nặng vào việc nhập khẩu các thành phần hoạt tính (API) và các hợp chất trung gian khác, phần lớn là từ Trung Quốc. Giá trị nhập khẩu API và các hợp chất trung gian đã tăng từ 800 triệu USD năm 2004 lên 3.461 triệu USD năm 2013, trong đó thị phần của Trung Quốc tăng từ 39% lên 58% trong cùng thời kỳ. Trung Quốc cũng chiếm ưu thế về lượng nhập khẩu vào Ấn Độ: Năm 2014, Trung Quốc chiếm 75% khối lượng nhập khẩu API và các hợp chất trung gian vào Ấn Độ. Đối với 10 công ty dược phẩm lớn nhất Ấn Độ, nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm 30-50% trong tổng số nguyên liệu nhập khẩu. Nhập khẩu từ Trung Quốc đã khiến cho sản xuất penixilin tại Ấn Độ không thể tiếp tục tồn tại, nhiều cơ sở sản xuất đã bắt buộc phải đóng cửa.
Ngay cả đối với các sản phẩm API mà Ấn Độ đã có thị phần lớn trên thị trường quốc tế, sự phụ thuộc vào nhập khẩu các hợp chất trung gian cũng đáng lo ngại. Ví dụ, Ấn Độ là quốc gia sản xuất paracetamol hàng đầu thế giới. Phần lớn paracetamol được sản xuất từ hợp chất trung gian para-aminophenol, năm 2015 Ấn Độ đã nhập 30.000 tấn hợp chất này từ Trung Quốc.
Sản phẩm nông hóa
Nông nghiệp là lĩnh vực quan trọng đối với nền kinh tế và an ninh lương thực của Ấn Độ, khoảng 60% hộ dân nông thôn ở đây sống phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp.
Ngành nông nghiệp ấn Độ đang đứng trước nhiều thách thức và cần phải thay đổi để đáp ứng những yêu cầu mới. Dân số ngày càng tăng, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa làm thu hẹp diện tích đất canh tác, trong khi đó nhu cầu của những tầng lớp dân cư với thu nhập cao hơn trước, kể cả người dân nông thôn, đang ngày càng cao. Mặt khác, nguồn nước tưới tiêu đã trở thành nguồn gốc gây bất hòa, dẫn đến các cuộc tranh chấp với các nước láng giềng cũng như giữa các địa phương. Tình trạng khai thác cạn kiệt nguồn nước ngầm đã đến mức báo động, đặc biệt là ở những khu vực đã đi đầu trong cuộc Cách mạng xanh.
Nhưng khác với các nền kinh tế dựa trên nông nghiệp khác, Ấn Độ may mắn là có ngành nông hóa phát triển mạnh, hiện đứng thứ tư trên thế giới, sau Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc. Ngành nông hóa sản xuất chủ yếu là các sản phẩm không có bản quyền sáng chế để cung cấp cho thị trường trong nước và ngày càng nhiều hơn cho mục đích xuất khẩu. Ấn Độ đã trở thành quốc gia sản xuất hàng đầu đối với những sản phẩm như pyrethoid và isoproturon tổng hợp. Trong năm tài chính 2015-2016, doanh thu của ngành nông hóa Ấn Độ đạt khoảng 4,3 tỷ USD, trong đó một nửa được xuất khẩu. Nhìn chung, thị trường nông hóa Ấn Độ được dự báo sẽ tăng trưởng 10-12%/năm và đạt khoảng 7 tỷ USD trong năm 2019. Xuất khẩu dự kiến sẽ tăng nhanh hơn (12-14%/năm ) so với thị trường nội địa (7-9%/năm).
Tuy đã đạt được những tiến bộ đáng kể, ngành sản xuất nông hóa Ấn Độ vẫn còn những điểm yếu và dễ bị tổn thương. Do khí hậu nhiệt đới nên thị trường nông hóa Ấn Độ nghiêng nhiều về thuốc trừ sâu, trong khi đó thị phần của thuốc diệt nấm và thuốc diệt cỏ tương đối nhỏ.
Triển vọng tương lai
Theo đánh giá của nhiều tổ chức kinh tế, Ấn Độ có khả năng sẽ đạt và duy trì tốc độ tăng trưởng GDP 7%/năm trong một số năm tới. Liên hiệp công nghiệp ấn Độ đã đặt mục tiêu tăng gấp 3 quy mô của ngành CNHC trong thời gian từ 2015 đến 2025. Nếu đạt mục tiêu này, CNHC Ấn Độ sẽ có quy mô khoảng 340 tỷ USD.
Trong khi tiếp tục phụ thuộc vào nguyên liệu dầu khí trong thời gian trước mắt, CNHC Ấn Độ sẽ tìm cách sử dụng các nguồn nguyên liệu thay thế. Sinh khối và than sẽ là những ưu tiên hàng đầu. Trước đây, ấn Độ đã phát triển mạnh ngành sản xuất hóa chất dựa trên nguyên liệu cồn, nhưng ngày nay ngành này chủ yếu sản xuất etanol làm phụ gia cho xăng. Trong khi than đang quay trở lại vai trò của nó trong sản xuất phân bón, việc sử dụng than để sản xuất những hóa chất như metanol, olefin và dẫn xuất sẽ cần được đánh giá cẩn thận trong bối cảnh của Ấn Độ.
Ngành sản xuất hóa chất tinh khiết và hóa chất chuyên dụng của Ấn Độ có triển vọng phát triển đầy hứa hẹn, vì chúng không phải chịu tác động của các mặt yếu kém cố hữu trong nền kinh tế quốc gia (chi phí vốn đầu tư cao, thiếu nguồn nguyên liệu hydrocacbon, chi phí năng lượng cao,...) nhưng lại có những điểm mạnh đặc biệt (trình độ chuyên môn cao, năng lực đổi mới với chi phí thấp,...). Việc phát triển sản xuất hóa chất tinh khiết và hóa chất chuyên dụng sẽ mở ra nhiều cơ hội cho các công ty hóa chất trong nước.
LH
Theo American Institute of Chemical Engineers, 12/2018